Về chúng tôi

Quá trình hình thành và phát triển

Đăng bởi | 06:14 | 25/10/2010

Công ty Điện lực Sóc Trăng 45 năm xây dựng và phát triển (1975-2020)

  PHẦN I

 HÀNH TRÌNH 45 NĂM

NGÀNH ĐIỆN TẠI TỈNH SÓC TRĂNG TRƯỚC NĂM 1975

Sóc Trăng là tỉnh thuộc khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, nằm trong hạ lưu sông Hậu; có bờ biển dài 72km và 3 cửa sông lớn là Định An, Trần Đề và Mỹ Thanh; có nhiều sông rạch và cù lao, bãi bồi. Là tỉnh có nhiều dân tộc cùng chung sống hài hòa, gắn bó từ bao đời nay, trong đó chủ yếu là 3 dân tộc Kinh (hơn 65%) – Hoa (6%) - Khmer (gần 30%), nên Sóc Trăng có nhiều nét văn hóa truyền thống đặc thù độc đáo. Nhân dân đa phần sinh sống bằng nghề nông nghiệp. Hiện trên địa bàn tỉnh có 8 huyện, 1 thành phố và 2 thị xã; 109 xã, phường, thị trấn. Tại Sóc Trăng, nhà máy nhiệt điện đầu tiên chạy bằng than củi đốt được người Pháp xây dựng vào thập niên đầu thế kỷ XX, tại bờ kinh De-La-Noux (tức địa điểm số 62, đường 30-4, TP.Sóc Trăng) do ông Messner phụ trách. Nhà máy được vận hành liên tục bởi một chuyên viên thợ điện người Pháp tên là Parol và 20 công nhân người bản xứ. Tuy nhiên, điện lúc này chỉ đủ cung cấp để thắp sáng một số con đường, cơ quan, dinh thự của các quan chức Pháp, một vài hiệu buôn lớn trong thị xã Sóc Trăng và Trung tâm thương mại Bãi Xàu.

Tháng 9/1922, Nhà máy điện được làng Khánh Hưng mua lại. Công suất của nhà máy cũng chỉ bảo đảm đủ điện chiếu sáng các đường phố, các công sở, các tư gia tại thị xã và Trung tâm thương mại Bãi Xàu.

Đến những năm 1927-1928, Nhà máy nhiệt điện tiếp tục nhượng lại cho Hãng năng lượng thuộc địa. Cùng với nhà máy nhiệt điện, tại thị xã Sóc Trăng lúc này còn có 01 nhà máy sản xuất nước đá của ông Messner chạy bằng động cơ điện và 01 nhà máy nước đá khác của ông Le Tourneau chạy bằng động cơ khí đốt. Mỗi nhà máy sản xuất trung bình mỗi ngày khoảng 300 kg nước đá và chỉ tiêu thụ tại địa phương.

Đến đầu thập niên 1940, người Pháp kéo dường dây điện từ Cần Thơ về Sóc Trăng và đến Bạc Liêu, cấp điện áp 31kV mở rộng cung cấp điện thêm cho các hộ dân trong thị xã Sóc Trăng.

Tóm lại, cho đến những thập niên 40 của thế kỷ XX, Sóc Trăng vẫn là một tỉnh nông nghiệp độc canh cây lúa và là một trong những vựa lúa hàng đầu của vùng châu thổ sông Cửu Long. Thủ công nghiệp phát triển chậm và chỉ đáp ứng một phần nhu cầu tiêu dùng rất khiêm tốn của cư dân sở tại. Công nghiệp hầu như chưa có gì đáng kể, ngoại trừ một nhà máy điện nhỏ chỉ đáp ứng đủ điện cho một phần nhu cầu chiếu sáng của thị xã Sóc Trăng và Trung tâm thương mại Bãi Xàu, 02 nhà máy xay xát gạo và các xưởng nấu rượu nếp của các chủ người Hoa, người Pháp.

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, chính quyền cách mạng Công - Nông đầu tiên của tỉnh Sóc Trăng ra đời. Ngay sau đó thực dân Pháp lăm le xâm lược nước ta lần thứ hai. Để ngăn chặn bước tiến của thực dân Pháp, chính quyền cách mạng ở Sóc Trăng đã phát động phong trào “Tiêu thổ kháng chiến” trong toàn tỉnh. Đặc biệt là tại tỉnh lỵ Sóc Trăng, lực lượng cách mạng tổ chức phá hỏng đường dây dẫn điện từ Cần Thơ về, gây trở ngại nhất định cho Pháp.

 Năm 1946, Pháp đặt một máy phát điện 50 kW tại địa điểm sau nhà Bưu điện tỉnh để tăng cường thêm nguồn điện thắp sáng đường nội ô thị xã. Năm 1950 Pháp đưa thêm 2 máy công suất 150 kW để tăng cường nguồn điện cho Nhân dân.

 Đến khoảng đầu tháng 3-1962, Công ty Điện lực SCEE của Pháp mua đất và xây dựng Nhà máy điện Sóc Trăng (ngay tại địa điểm hiện nay - số 113, đường Lê Hồng Phong, Phường 3, thành phố Sóc Trăng). Đồng thời, tổ chức Điện lực SCEE của Pháp cũng ký hợp đồng với chính quyền Sài Gòn cũ mua lại quyền khai thác bán điện tại các tỉnh miền Tây, như: Long Xuyên, Sa Đéc, Vĩnh Long, Trà Vinh, Cần Thơ, Sóc Trăng... Lúc này tại Sóc Trăng đã được lắp đặt thêm 3 máy phát điện hiệu MAN, với công suất 62 kW/máy.

 Năm 1968, Pháp bàn giao quyền khai thác điện cho Công ty Điện lực miền Nam (gọi tắt là CĐV). Lúc này, ở tỉnh lỵ Sóc Trăng đã có thêm 2 máy phát điện công suất 500kW và 1200kW phát điện cho toàn thị xã Sóc Trăng đến tận Bãi Xàu (nay là huyện Mỹ Xuyên); đồng thời, đặt 2 máy nhỏ (công suất mỗi máy 100kW) phát cho 2 huyện Long Phú và Kế Sách (sau này thêm ở mỗi huyện một máy 200kW khi máy 100kW bị hỏng).

CÔNG TY ĐIỆN LỰC SÓC TRĂNG QUA CÁC THỜI KỲ

Đi lên cùng sự lớn mạnh và phát triển của tỉnh Sóc Trăng và ngành Điện, Công ty Điện lực Sóc Trăng đã trãi qua các thời kỳ hình thành và phát triển, thay đổi tên gọi cho phù hợp với chức năng nhiệm vụ sản xuất kinh doanh và mô hình hoạt động của ngành Điện, như sau:

* Tiền thân của Công ty là Nhà máy điện Sóc Trăng do Công ty Điện lực SCEE từ thời Pháp thuộc quản lý (Nhân dân thường gọi với tên Nhà Đèn). Trước năm 1975, Nhà máy điện Sóc Trăng thuộc Trung tâm Điện lực Phong Dinh - Khu Điện lực miền Tây, Điện lực Việt Nam (CĐV).

* Ngày 30-4-1975, thị xã Sóc Trăng được hoàn toàn giải phóng. Nhà máy điện Sóc Trăng được tiếp quản và trở thành Chi nhánh điện Sóc Trăng.

 * Đến năm 1976 sáp nhập vào Sở Quản lý phân phối điện Hậu Giang thuộc Công ty Điện lực miền Nam, lực lượng cán bộ nhân viên khoảng 26 người.

Đến năm 1976 sáp nhập vào Sở Quản lý phân phối điện Hậu Giang thuộc Công ty Điện lực miền Nam, lực lượng cán bộ nhân viên khoảng 26 người.

* Ngày 17-4-1992, Sở Điện lực Sóc Trăng được thành lập cùng với thời điểm tách tỉnh Hậu Giang thành hai tỉnh Cần Thơ và Sóc Trăng

* Tháng 3-1996, Tổng công ty Điện lực Việt Nam ra quyết định đổi tên các Sở Điện lực trực thuộc Công ty Điện lực 2 thành Điện lực trực thuộc Công ty Điện lực 2. Sở Điện lực Sóc Trăng đổi tên thành Điện lực Sóc Trăng (không còn chức năng quản lý Nhà nước về điện).

                                                  

                                                Bàn giao chức năng quản lý nhà nước giữa ĐLST và Sở Công nghiệp

* Tháng 7-2010, Tổng công ty Điện lực miền Nam ra quyết định đổi tên Điện lực Sóc Trăng thành Công ty Điện lực Sóc Trăng (theo mô hình tổ chức của Công ty mẹ).

 LÃNH ĐẠO CÔNG TY ĐIỆN LỰC SÓC TRĂNG QUA CÁC THỜI KỲ

TIẾP QUẢN DÒNG ĐIỆN

* Giai đoạn 1975-1994:

Tháng 4-1975, với nhiệm vụ vừa sửa chữa, vừa sử dụng điện làm công cụ tham gia phát triển kinh tế - xã hội, tạo ổn định lâu dài cho việc sản xuất phân phối điện, ngay từ khi tiếp quản, dòng điện đã được cán bộ, công nhân viên Chi nhánh điện Sóc Trăng giữ vững liên tục.

Toàn thị xã Sóc Trăng lúc bấy giờ có 9/94 xã phường có điện; 70 km đường dây hạ thế; Dung lượng trạm biến thế phân phối đạt 2500kVA (19 trạm); Tổng công suất các máy phát diesel khoảng 5.500kW. Sản lượng điện thương phẩm đạt 3,5 triệu kWh/năm; Điện năng tiêu thụ bình quân đầu người chỉ có 5 kWh/người/năm.

Cùng với khó khăn chung của cả nước, Chi nhánh điện Sóc Trăng đã hoạt động trong tình trạng thiếu nhiên liệu duy trì cho hoạt động cung cấp điện trong toàn Tỉnh (năm 1976 Chi nhánh điện Sóc Trăng sáp nhập vào Sở Quản lý phân phối điện Hậu Giang) và phát điện độc lập chưa được trợ giúp từ nguồn điện lưới quốc gia, máy móc thiết bị không có phụ tùng thay thế. Tuy nhiên, toàn thể cán bộ nhân viên đều cố gắng thực hiện tốt nhiệm vụ, các máy phát điện được sửa chữa bảo dưỡng và phát điện ổn định.

Năm 1983, sản lượng điện tiêu thụ bình quân 6kWh/người/năm; Hệ thống lưới điện hạ thế được tăng cường đảm bảo cho nguồn điện sản xuất ban ngày, đồng thời đảm bảo cho người dân thị xã Sóc Trăng và các thị trấn Kế Sách, Mỹ Xuyên, Long Phú có điện tiêu dùng ban đêm.

Trước những yêu cầu về nguồn điện tại thị xã Sóc Trăng và 6 huyện; qua xem xét khả năng quản lý của Chi nhánh điện Sóc Trăng, ngành Điện đã đầu tư xây dựng đường dây 110kV Cần Thơ - Sóc Trăng và lắp trạm 66/15 kV với tổng dung lượng 6 MVA. Năm 1985, Sóc Trăng chính thức tiếp nhận lưới điện Quốc gia từ Trạm biến điện 66/15kV tại Quốc lộ I (MBA 6300kVA), mở ra thời kỳ mới về điện cho Sóc Trăng.

Nắm bắt kịp thời triển vọng cung cấp điện, đơn vị đã tham mưu hỗ trợ địa phương trong công tác xây dựng đường dây 15, 35kV từ lưới điện quốc gia đến các thị trấn, huyện, xã.

Năm 1986, lưới điện quốc gia được đưa đến huyện Long Phú. Toàn thị xã Sóc Trăng có 7500 khách hàng sử dụng điện; 9/94 xã phường có điện; Sản lượng điện thương phẩm đạt 8,18 triệu kWh/năm; Điện năng tiêu thụ bình quân đầu người 8 kWh/người/năm. Công suất điện đạt 3,2 MW, tăng gấp 2 lần so với năm 1975. Tổng dung lượng trạm biến thế phân phối đạt 4000 kVA.

Năm 1987, lưới điện quốc gia được đưa đến các huyện thuộc đến Mỹ Tú, Kế Sách, Thạnh Trị và năm 1988 đến huyện Vĩnh Châu. Cũng trong năm 1988, tất cả 6 huyện trong Thị xã Sóc Trăng đều có lưới điện quốc gia với 193 km đường dây trung thế được xây dựng mới (giai đoạn 1986 - 1988) và hơn 40 km đường dây hạ thế.

Năm 1990, toàn thị xã Sóc Trăng có 30/94 xã phường có điện; Sản lượng điện thương phẩm đạt 31,24 triệu kWh/năm, tăng gấp 3,8 lần so với năm 1986; Điện năng tiêu thụ bình quân đầu người 24kWh/người/năm, tăng gấp 3 lần so với năm 1986. Công suất điện đạt 6,2 MW.

Tháng 4-1992, tỉnh Sóc Trăng được tái lập từ việc chia tách tỉnh Hậu Giang thành hai tỉnh Cần Thơ và Sóc Trăng. Cùng thời điểm này, Sở Điện lực Sóc Trăng được thành lập, với lực lượng cán bộ nhân viên 54 người (trong đó có 5 kỹ sư và trung cấp). Cơ sở vật chất, vật tư và thiết bị lưới điện đã xuống cấp sau nhiều năm vận hành; sự cố lưới điện nhiều gây tổn thất điện năng ở mức cao (15,1%).

Với đặc điểm của một tỉnh thuần nông và có đông đồng bào dân tộc Khmer sinh sống (gần 30%), hoàn cảnh khó khăn thiếu thốn, Nhân dân và địa phương thiếu vốn làm điện. Toàn tỉnh có 10,5% số hộ có điện (22.150/220.320 hộ dân cư), trong đó có 9000 khách hàng sử dụng điện; 32/94 xã phường có điện (tỷ lệ 34%); 264 km đường dây trung thế; 86 km đường dây hạ thế; Sản lượng điện thương phẩm đạt 29,3 triệu kWh/năm; Điện năng tiêu thụ bình quân đầu người có 26 kWh/người/năm.

Toàn bộ lưới điện nông thôn lúc bấy giờ do Tổ điện xã, Ban quản lý điện cấp xã, các hộ cá nhân, Ban quản lý điện huyện quản lý và bán điện (bán lẻ); Sở Điện lực chỉ quản lý khu vực thị xã và các thị trấn Long Phú, Mỹ Xuyên, Kế Sách. Do có nhiều thành phần quản lý và bán điện, với nhiều giá bán điện khác nhau. Khó khăn rất lớn của Sóc Trăng lúc bấy giờ là thiếu vốn đầu tư và cơ chế quản lý điện nông thôn nhiều đầu mối.

Thực hiện chủ trương đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII, công tác điện khí hóa nông thôn chuyển sang thời kỳ mới, Sở Điện lực Sóc Trăng thực hiện chức năng tham mưu cho UBND tỉnh Sóc Trăng trong việc thực hiện chương trình điện khí hóa nông thôn, đặc biệt quan tâm phát triển điện đối với vùng nông thôn sâu, vùng đồng bào dân tộc, vùng căn cứ cách mạng, các xã Anh hùng. Đơn vị đã nỗ lực hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, nổi bật như sau:

Dồn sức cho công tác phát triển điện nông thôn

Đơn vị đã cử cán bộ chuyên trách đến từng xã trong tỉnh để khảo sát và xác định nhu cầu về điện đồng thời cùng địa phương xác định các phương án phát triển, hình thức huy động vốn, trình tự cần thực hiện có kết hợp với các chính sách đãi ngộ ưu tiên vùng kháng chiến, vùng đồng bào dân tộc. Đồng thời phối hợp cùng Ủy ban Kế hoạch Tỉnh tham mưu cho UBND tỉnh thực hiện công tác quy hoạch phát triển tổng thể lưới điện trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng và được thông qua năm 1995

                               

                           

Tranh thủ nguồn vốn đầu tư phát triển lưới điện của Công ty Điện lực 2 (nay là Tổng công ty Điện lực miền Nam) kết hợp với các biện pháp tiết kiệm và khai thác khả năng sản xuất kinh doanh, với phương thức “Nhà nước và Nhân dân cùng làm”, Sở Điện lực Sóc Trăng đã phối hợp với cấp huyện và Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn giúp dân vay vốn gắn điện kế trả dần, triển khai mô hình làm điện trả dần theo mùa vụ không tính lãi cho dân nghèo (3 - 6 tháng), gắn điện kế tặng Mẹ Việt Nam Anh hùng. Mặt khác, Điện lực đã kêu gọi các đơn vị thi công, cung ứng vật tư tạo điều kiện trả chậm, trả góp để phát triển đường dây.

Qua đó, năm 1994, Sóc Trăng đã có 44/94 xã phường có điện (tăng gấp 4 lần so với năm 1975 là 9/94 xã, phường, thị trấn có điện); 387 km đường dây trung - hạ thế (tăng gấp 4,5 lần so với năm 1975 là 70 km); 78 trạm biến thế (tăng gấp 3 lần so với năm 1975 là 19 trạm); Tổng dung lượng trạm biến thế phân phối đạt 5606 kVA (tăng gấp 2 lần so với năm 1975 là 2500 KVA); Công suất điện đạt 10 MW (tăng gấp 5 lần so với năm 1975 là 1,6 MW);.Sản lượng điện thương phẩm đạt 43,42 triệu kWh/năm (tăng gấp 11 lần so với năm 1975 là 3,5 triệu kWh/năm); Điện năng tiêu thụ bình quân đầu người đạt 36 kWh/người/năm (tăng gấp 6 lần so với năm 1975 là 5 kWh/người/năm).

NHỮNG SỰ KIỆN NỔI BẬT

Chương trình điện khí hóa nông thôn

Thực hiện nhiệm vụ phát triển điện theo chủ trương điện khí hóa nông thôn, công nghiệp hóa, hện đại hóa đất nước; Công ty Điện lực Sóc Trăng đã hoàn thành xuất sắc chương trình điện khí hóa nông thôn; Điện phục vụ vùng đồng bào dân tộc Khmer; Điện phục vụ nuôi trồng thủy sản; Phát triển đường dây và trạm biến áp 110kV để nâng cao chất lượng điện áp, nổi bật  như sau:

15 năm qua (1998 - 2013), Công ty Điện lực Sóc Trăng đã thực hiện Chương trình Điện khí hóa nông thôn - đưa điện về 100% xã, phường, thị trấn. Chương trình hoàn thành đã đưa tỷ lệ hộ có điện từ 34% (năm 1998) lên 98% (năm 2013).

1.Điện khí hóa ở xã Mỹ Phước Anh hùng           

                                               

Từ năm 1996, Chính phủ ban hành Quyết định số 99/TTg về công tác điện khí hóa nông thôn, lĩnh vực phát triển điện đã có những bước nhảy vọt, Điện lực Sóc Trăng được Công ty Điện lực 2 giao thực hiện thí điểm điện khí hoá xã Mỹ Phước Anh hùng (công trình được khởi công ngày 15/10/1996), đây là xã được chọn điện hoá thí điểm đầu tiên trong 22 xã ở Đồng bằng Sông Cửu Long, với địa hình rất đặc trưng cho vùng đồng bằng sông Cửu Long (địa hình nhiều sông rạch chằng chịt, mùa nước nổi tháng 11, di chuyển đi lại thi công bằng tàu đò rất khó khăn). Công trình hoàn thành có ý nghĩa rất quan trọng về chính trị-văn hoá- kinh tế-xã hội tại địa phương, bước đầu điện hoá được 1000/3090 hộ dân của xã, đạt tỷ lệ 32,4%. Thể hiện chính sách đền ơn đáp nghĩa của Đảng và Nhà nước đối với vùng căn cứ cách mạng. Mỹ Phước là quê hương của 33 Mẹ Việt Nam Anh hùng và trên 1000 liệt sĩ. Thể hiện chính sách đoàn kết tôn giáo và dân tộc của Đảng và Nhà nước (công  trình đưa điện về 3 nhà thờ Công giáo ở ấp Phước Thọ và trên 300 hộ đồng bào Công giáo có điện; đồng thời công trình đi qua 2 xã có đông đồng bào dân tộc Khmer của huyện Mỹ Tú (Thuận Hưng và Mỹ Thuận), bước đầu điện hoá được 2 trung tâm xã, 1 chùa Khmer (chùa Tam Sóc) và trên 600 hộ dân tộc Khmer có điện). Tạo tiền đề cho ngành công nghiệp xay xát lúa gạo dọc theo khu vực Tam Sóc và điện khí hoá các xã lân cận. Công trình hoàn thành tốt đẹp vào cuối năm 1997. Xác lập cột mốc “Toàn bộ xã đất liền có điện”.

Với những nỗ lực nêu trên, năm 1997 đơn vị vinh dự đón nhận Huân chương Lao động hạng ba do Chủ tịch nước tặng thưởng.

2. Điện khí hoá 4 xã trên địa bàn Cù Lao Dung (huyện Long Phú)

Thành công từ công trình điện khí hóa thí điểm nêu trên đã làm tiền đề điện hoá Cù Lao Dung. Đơn vị đã tham mưu cho UBND tỉnh ưu tiên chọn điện khí hóa 4 xã trên địa bàn Cù Lao Dung (thuộc huyện Long Phú). Công trình được khởi công vào đầu năm 1997 với vốn đầu tư 26 tỷ đồng, kéo điện vượt sông bằng 2 trụ vượt cao hơn 90 mét, hoàn thành vào tháng 12-1998, cung cấp điện cho 4000 hộ, phục vụ sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy hải sản cho vùng đất Cù Lao Dung.

3. Điện khí hóa xã Phong Nẫm của huyện Kế Sách

Cũng trong năm 1998, đơn vị đưa điện lưới Quốc gia từ huyện Trà Ôn của tỉnh Vĩnh Long vượt sông Hậu về cấp điện cho Cù lao Phong Nẫm (thuộc huyện Kế Sách) với vốn đầu tư 3,43 tỷ đồng, công trình hoàn thành nhân dịp lễ Quốc khánh 2-9-1999. Tiếp tục xác lập cột mốc “100% xã, phường trong tỉnh có lưới điện Quốc gia”. Hoàn thành trước kế hoạch một năm so với Quyết định 99/TTg của Thủ tướng Chính Phủ "đến năm 2000 đưa điện lưới quốc gia về 100% trung tâm xã, phường, thị trấn”.

Năm 1999, công trình đưa điện vượt sông Hậu về xã Phong Nẫm (Kế Sách) hoàn thành, đưa 100% trung tâm xã, phường, thị trấn trong tỉnh Sóc Trăng có lưới điện Quốc gia, vượt trước một năm so với kế hoạch được giao

4. Công trình lưới điện phân phối thị xã Sóc Trăng

Đơn vị đẩy mạnh thực hiện công trình lưới điện phân phối thị xã Sóc Trăng với số vốn đầu tư 13,5 tỷ đồng, nhằm cung cấp điện cho các khu vực dân cư vùng ven thị xã, khu vực đồng bào dân tộc và các hộ ở 10 phường; nâng tỷ lệ điện khí hóa hộ của thị xã đạt 100%. Góp phần đưa thị xã Sóc Trăng được công nhận đô thị loại III trực thuộc tỉnh Sóc Trăng vào tháng 11-2005.

Sau những năm đẩy mạnh phát triển điện, lưới điện đã phủ khắp 100% xã, phường, thị trấn. Nâng tổng số hộ sử dụng điện lên 267.380 hộ, đạt tỷ lệ 91,52% vào năm 2007, đơn vị đã hoàn thành chỉ tiêu trước 3 năm theo Nghị quyết Đảng bộ tỉnh Sóc Trăng lần thứ XI “Phấn đấu kết thúc kế hoạch 5 năm (2006-2010) có trên 90% hộ dân có điện”. Bộ mặt nông thôn và thành thị Sóc Trăng đã rạng rỡ, góp phần đưa thị xã Sóc Trăng được Chính phủ công nhận “Thành phố trực thuộc Tỉnh” vào năm 2007.

5. Công trình điện khí hóa xã An Tấn và An Công (xã An Lạc Tây, huyện Kế Sách)

Tháng 4-2009, đơn vị tiếp tục đưa điện lưới Quốc gia vượt sông Hậu về cấp điện cho ấp An Tấn và An Công (thuộc xã An Lạc Tây, huyện Kế Sách), xác lập cột mốc mới “100% số ấp toàn tỉnh có điện”.

Thành công của Chương trình Điện khí hóa nông thôn tại Sóc Trăng là kết quả của việc phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Trong đó, với vai trò nòng cốt, ngành Điện nói chung và Công ty Điện lực Sóc Trăng nói riêng đã đóng góp một phần rất quan trọng. Không chỉ đầu tư mở rộng mạng lưới điện truyền tải, trong điều kiện còn nhiều khó khăn, thách thức, song đơn vị còn nỗ lực đưa điện về các xã vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Qua đó, góp phần làm thay đổi diện mạo nông thôn, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân tỉnh nhà, nhất là đồng bào Khmer.

Kết quả đạt được qua 15 năm thực hiện Chương trình Điện khí hóa nông thôn là nền tảng quan trọng để đơn vị tiếp tục nỗ lực đầu tư thực hiện hoàn thành mục tiêu đảm bảo cung cấp điện an toàn, chất lượng và nâng cao chất lượng dịch vụ khách hàng tại vùng nông thôn, góp phần quan trọng để nông thôn Sóc Trăng ngày càng phát triển theo hướng văn minh, hiện đại.

Thực hiện chuyển đổi mô hình quản lý điện nông thôn

Đơn vị đã tham mưu cho địa phương khắc phục tình trạng quản lý phân phối điện; giao Điện lực tiếp nhận quản lý toàn bộ lưới điện nông thôn (đơn vị đã tiến hành xóa cụm, tiếp quản lưới điện nông thôn từ các Ban Quản lý điện các huyện và những trạm tư nhân) để bán trực tiếp đến từng hộ dân (là Điện lực đầu tiên trong cả nước bán điện tận hộ trong toàn tỉnh). Do vậy, từ cuối năm 2002, giá bán điện giữa nông thôn và thành thị tại Sóc Trăng như nhau.

                     

                                           

Năm 2003, đơn vị đã giúp địa phương chuyển đổi mô hình quản lý điện nông thôn, tăng cường gặp gỡ khách hàng mua điện qua điện kế tổng để khuyến khích khách hàng bàn giao lưới điện cho Điện lực bán điện tận hộ. Đến cuối quý I-2004, đơn vị đã quản lý bán điện trực tiếp 100% xã, phường, thị trấn; khắc phục được tình trạng quản lý phân phối điện nhiều đầu mối, Nhân dân phải mua điện giá cao. Qua đó, đã giúp địa phương giải quyết được bài toán khó về cơ chế quản lý điện nông thôn.

Đặc biệt, đơn vị đã cải tiến công tác sắp xếp bộ máy thu tiền điện và ghi điện bước đầu là hợp đồng khoán (năm 2002), sau đó (năm 2003) Điện lực được Công ty Điện lực 2 giao thực hiện thí điểm mô hình đại lý dịch vụ bán lẻ điện nông thôn (nay là Dịch vụ bán lẻ điện) hoàn thành, hiệu quả đạt được là tiết kiệm được khoảng 40% chi phí quản lý, được Công ty Điện lực 2 và Tổng công ty Điện lực Việt Nam biểu dương về thành tích "Đóng góp sáng tạo của Điện lực Sóc Trăng v/v tổ chức vài Đại lý trên 1 xã, tạo tiền đề cho việc chọn đại lý thông qua đấu thầu chi phí có thể được áp dụng sau này".

Dự án “Cung cấp điện cho các hộ dân chưa có điện chủ yếu là đồng bào dân tộc Khmer tỉnh Sóc Trăng”

Đơn vị đã triển khai thực hiện Dự án “Cung cấp điện cho các hộ dân chưa có điện chủ yếu là đồng bào dân tộc Khmer tỉnh Sóc Trăng” với tổng số vốn đầu tư 618,05 tỷ đồng; dự án được khởi động vào tháng 9-2009, đến năm 2011 triển khai thi công; chia làm 3 giai đoạn: Giai đoạn I (2011-2012); Giai đoạn II (2012-2015); Giai đoạn III (2015- 2016). Cấp điện cho 45.551 hộ dân, nâng tỷ lệ hộ có điện lên 99,4 %.

                                                 

     

Dự án mang ý nghĩa quan trọng về chính trị - xã hội, thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Đảng và Nhà nước đến đời sống của người dân, nhất là đồng bào Khmer; người dân có điều kiện giải trí, tiếp nhận thông tin nhiều hơn; làm thay đổi bộ mặt nông thôn vùng sâu, vùng xa; cải thiện đời sống vật chất và tinh thần.

Dự án đã mở rộng hệ thống điện đến các khóm, ấp chưa có điện; cấp điện ổn định cho đồng bào Khmer ở Sóc Trăng. Qua đó, góp phần xóa đói, giảm nghèo; nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho đồng bào các dân tộc; tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân; giữ vững an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội cho các địa phương; tạo sự chuyển biến tích cực về kinh tế - xã hội ở vùng sâu, vùng xa và giảm dần khoảng cách giữa nông thôn và thành thị.

 Tất cả các hộ dân nằm trong vùng dự án đều được kéo điện hoàn toàn miễn phí, từ đường điện vào nhà, đến điện kế và cả hệ thống chiếu sáng sinh hoạt sau công-tơ (mỗi hộ được hỗ trợ 1 bóng đèn compact và đuôi đèn; 1 bảng điện gồm 1 bảng nhựa, 1 ổ cắm, 1 công tắc điện và 1 cầu chì; 5m dây dẫn).

Quá trình thực hiện Dự án, đơn vị đã đề xuất sáng kiến “Sử dụng potelet composite cho các nhánh rẽ vào nhà khách hàng” đã giảm bớt chi phí đầu tư (potelet composite có giá thấp hơn potelet sắt), đảm bảo tính mỹ quan. Tiết kiệm chí phí thi công lắp đặt, bảo trì cho toàn dự án khoảng 2,8 tỷ đồng/năm. Đề tài này đã được áp dụng trong ngành Điện đối với Dự án cấp điện cho đồng bào dân tộc Khmer” tỉnh Sóc Trăng, Trà Vinh, Bạc Liêu... được Tổng công ty Điện lực miền Nam công nhận qua Quyết định số: 588/QĐ-EVNSPC ngày 14/3/2014.

Đẩy mạnh đầu tư các công trình điện phục vụ nuôi trồng thủy sản

Được sự quan tâm đầu tư của Công ty Điện lực 2 và địa phương, đơn vị đã triển khai các công trình điện thông qua nhiều nguồn vốn khác nhau để thực hiện nhiều công trình điện khí hóa: Giai đoạn 2000-2002, từ nguồn vốn của Tỉnh cho ngành Điện mượn 20 tỷ đồng và trả trong 3 năm; nguồn vốn khấu hao cơ bản của ngành Điện tặng cho tỉnh Sóc Trăng 01 công trình điện khí hóa; nguồn vốn vay WB để điện khí hóa 18 xã; bằng nguồn vốn AFD cho 4 xã để điện khí hóa các khu vực văn hoá, kinh tế, khu vực nuôi trồng thủy sản và khu vực đồng bào dân tộc Khmer.

                                                

Năm 2017, Công ty đã triển khai thực hiện Dự án cấp điện phục vụ nuôi tôm (DPL3), với tổng số vốn đầu tư 286 tỷ đồng, tập trung vào các khu vực nuôi tôm như: Vĩnh Châu, Mỹ Xuyên, Cù Lao Dung, Trần Đề, Long Phú, Mỹ Tú; cấp điện cho nhu cầu nuôi tôm, giảm được tình trạng người dân sử dụng điện sinh hoạt câu kéo nuôi tôm gây quá tải trạm, đường dây. Dự án hoàn thành đưa vào sử dụng đã cấp điện ổn định, liên tục, mang lại hiệu quả kinh tế cho hàng chục nghìn hộ nuôi tôm.

Từ nguồn điện Quốc gia, những cánh đồng nhiễm mặn quanh năm đã được thay thế bằng những ao nuôi thủy sản công nghiệp cho lợi nhuận cao, là ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh.

Song song đó, với tâm huyết giúp các hộ nuôi tôm tiết kiệm điện, tăng năng suất và tăng lợi nhuận, CBCNV Công ty đã có sáng kiến “Tiết kiệm điện trong nuôi tôm”, sử dụng gối đỡ con lăn để đỡ trục quay của dàn quạt oxy để làm giảm ma sát khi quay góp phần tiết kiệm điện tiêu thụ của động cơ và tăng thời gian sử dụng trục quay. Giúp người sử dụng giảm được 15,2% lượng điện năng so với mô hình truyền thống. Đồng thời cải tiến dàn quạt cho động cơ cùng phương với trục dàn quạt (lắp đặt trục quay của dàn quạt oxy cùng phương với trục quay của động cơ kết hợp sử dụng gối đỡ con lăn). Giúp người sử dụng giảm được 38,72% lượng điện năng so với mô hình truyền thống, tương ứng số tiền tiết kiệm gần 2,5 tỷ đồng/năm.

                                             

                                              Sáng kiến được Bộ Công Thương công nhận quyết định số 2479/QĐ-BCT ngày 12/7/2018, đạt giải nhất sáng kiến vì cộng đồng.

Đầu tư phát triển hệ thống lưới điện trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng

Vừa đẩy mạnh công tác phát triển điện nông thôn đồng thời đầu tư các công trình nâng cấp điện áp, đảm bảo cung cấp điện ổn định và an toàn, năm 1994, đơn vị đã nâng cấp đường dây 66 kV và nâng cấp máy biến áp 66 kV lên 110 kV; đóng điện vận hành MBA 13,8 MVA trạm 110 kV Sóc Trăng. Năm 1997, đóng điện vận hành máy biến áp 25 MVA trạm 110 kV Sóc Trăng.

Năm 1999, hoàn thành công trình nâng cấp toàn bộ lưới điện phân phối lên cấp điện áp chuẩn 22kV, Sóc Trăng là tỉnh đầu tiên trong cả nước (tháng 9/1999) sử dụng một cấp điện áp chuẩn 22kV cho toàn bộ lưới phân phối.

                                                     

           

Năm 2000, đơn vị được giao quản lý 168 km đường dây cao thế từ Trà Nóc đến Cà Mau. Tháng 9-2001, đơn vị đã thay máy biến áp 13,8 MVA bằng máy biến áp 40 MVA 110 kV/22 kV trạm Sóc Trăng, cũng từ thời điểm này nguồn điện vận hành ổn định.

                         

Đến năm 2003, đơn vị đã sửa chữa và xây dựng mới hơn 90% lưới điện hạ áp phục vụ khu vực ánh sáng sinh hoạt tại thị xã Sóc Trăng, tất cả các huyện đều có 2 nguồn điện (mạch vòng trung áp).

                                                                        

Năm 2005 đơn vị tiếp tục hoàn thành công trình xây dựng đường dây 110 kV và trạm biến áp 110 kV Đại Ngãi, trạm biến áp 110 kV Trần Đề; Năm 2006 xây dựng trạm 110 kV Mỹ Tú. Tổng giá trị đầu tư hơn 170 tỷ đồng.

Nhiều Dự án đường dây và trạm 110kV được đầu tư hàng năm đã giải quyết các vùng phụ tải bán kính xa, điện áp thấp, giúp ổn định và tăng cường năng lực nguồn cung cấp điện, góp phần giảm tổn thất điện năng, đáp ứng nhu cầu phụ tải trong khu vực.

   

Các công trình dự án 110 kV:

Giai đoạn 2015–2020 ngành Điện đã đầu tư nhiều công trình đường dây và trạm 110kV trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng nhằm giải quyết các vùng phụ tải bán kính xa, điện áp thấp, giúp ổn định và tăng cường năng lực nguồn cung cấp điện, góp phần giảm tổn thất điện năng, đáp ứng nhu cầu phụ tải trong khu vực, những công trình điện trọng điểm như sau:

1- Cải tạo trạm biến áp 110kV Sóc Trăng: Tổng mức đầu tư 29,36 tỷ đồng, hoàn thành đóng điện trong năm 2016.

2- Thay MBA T2 – 40MVA bằng 63MVA trạm biến áp 110kV Sóc Trăng: Tổng mức đầu tư 46,7 tỷ đồng, vận hành tháng 5/2017.

3- Lắp máy T2 (40MVA) trạm biến áp 110kV Vĩnh Châu: Tổng mức đầu tư 35,4 tỷ đồng, vận hành tháng 12/2017.

4- Xây dựng trạm 110kV Cù Lao Dung: Tổng mức đầu tư 123,97 tỷ đồng. hoàn thành đóng điện tháng 6/2017.

5- Xây dựng trạm 110kV Mỹ Xuyên và đường dây đấu nối: Tổng mức đầu tư 54,9 tỷ đồng, vận hành tháng 8/2019.

Đến nay (năm 2020), PCST đang quản lý vận hành ổn định và an toàn 9 tuyến đường dây 110kV, tổng chiều dài đường dây 110 kV là 167,03 km. Tổng số trạm biến áp 110kV là 8 trạm với 12 máy biến áp, tổng dung lượng là 451 MVA.

Hiệu quả đạt được là các chỉ số độ tin cậy cung cấp điện: tổng thời gian mất điện khách hàng bình quân (SAIDI); Tần suất mất điện thoáng qua bình quân (MAIFI); Tần suất mất điện kéo dài bình quân (SAIFI) tiếp tục cải thiện đáng kể so với năm trước.

Kết quả thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh 45 năm (1975 – 2020)

Giai đoạn 1975 – 1994

Giai đoạn 1995-2004:

Kết quả thực hiện nhiệm vụ 10 năm (1995-2004) như sau: Năm 2004, Toàn thị xã Sóc Trăng có 105/105 xã phường có điện (đạt tỷ lệ 100% và tăng gấp 2 lần so với năm 1995 là 67/94 xã, phường, thị trấn có điện);

Phát triển 4980 km đường dây trung - hạ thế (tăng gấp 8 lần so với năm 1995 là 633 km); 2585 trạm biến thế (tăng gấp 7 lần so với năm 1995 là 370 trạm); Tổng dung lượng trạm biến thế phân phối đạt 164145 kVA (tăng gấp 5 lần so với năm 1995 là 32130 KVA); Công suất điện đạt 55,7 MW (tăng gấp 5 lần so với năm 1995 là 10,2 MW);

Sản lượng điện thương phẩm đạt 304,31 triệu kWh/năm (tăng gấp 5 lần so với năm 1995 là 55,9 triệu kWh/năm); Giá bán bình quân đạt 776,56 đ/kWh, (tăng 46% so với năm 1995 là 529,48 đ/kWh). Doanh thu đạt 236,41 tỷ đồng, (tăng gấp 8 lần so với năm 1995 là 29,6 tỷ đồng). Điện năng tiêu thụ bình quân đầu người đạt 245 kWh/người/năm (tăng gấp 5 lần so với năm 1995 là 46 kWh/người/năm).

Số khách hàng sử dụng điện đạt 156957 khách hàng, (tăng gấp 11 lần so với năm 1995 là 13575 khách hàng). Số hộ có điện đạt 188969 hộ, (tăng gấp 5 lần so với năm 1995 là 39581 hộ).

Giai đoạn 2005-2014:

109/109 xã phường có điện (đạt tỷ lệ 100%);

Phát triển 7258 km đường dây trung - hạ thế (tăng gần gấp 2 lần so với năm 2005 là 5143 km); 4773 trạm biến thế (tăng gần gấp 2 lần so với năm 2005 là 2700 trạm); Tổng dung lượng trạm biến thế phân phối đạt 432,66 MVA (tăng hơn 2,5 lần so với năm 2005 là 172,82 MVA); Số khách hàng sử dụng điện đạt 294775 khách hàng, (tăng 1,6 lần so với năm 2005 là 175720 khách hàng).

Sản lượng điện thương phẩm đạt 913,14 triệu kWh/năm (tăng gần gấp 3 lần so với năm 2005 là 342,26 triệu kWh/năm); Giá bán điện bình quân đạt 1529,65 đ/kWh, (tăng gần gấp 2 lần so với năm 2005 là 778,10 đ/kWh). Doanh thu đạt 1.396,79 tỷ đồng, (tăng hơn gấp 5 lần so với năm 2005 là 266,31 tỷ đồng).

Giai đoạn 2015-2019:

109/109 xã phường có điện (đạt tỷ lệ 100%);

Phát triển khách hàng sử dụng điện đạt 382818 khách hàng; 8687 km đường dây trung - hạ thế và 6289 trạm biến thế (các chỉ số này đều tăng 1,2 lần so với năm 2015); Tổng dung lượng trạm biến thế phân phối đạt 738,14 MVA (tăng 1,5 lần so với năm 2015 là 479,05 MVA).

Sản lượng điện thương phẩm đạt 1427,14 triệu kWh/năm (tăng 1,5 lần so với năm 2015 là 975,4 triệu kWh/năm); Giá bán điện bình quân đạt 1838 đ/kWh, (tăng 214,5 đ/kWh so với năm 2015 là 1623,5 đ/kWh). Doanh thu đạt 2852,6 tỷ đồng, (tăng gần gấp 2 lần so với năm 2015 là 1583,6 tỷ đồng).

QUA 28 NĂM (1992 – 2020) KỂ TỪ KHI TÁI LẬP TỈNH SÓC TRĂNG, TỐC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG NHƯ SAU:

Quy mô quản lý giai đoạn 1992-2019 tăng trưởng như sau:

100% (109/109) trung tâm xã, phường, thị trấn có điện.

Sản lượng điện thương phẩm đạt 1427,14 triệu kWh; tăng 49 lần so với năm 1992 (29,29 triệu kWh) .

- Giá bán điện bình quân đạt 1838 đồng/kWh, tăng gấp 3,6 lần (năm 1992 là 512 đồng/kWh);

- Doanh thu bán điện đạt mức 2852 tỷ đồng, tăng gấp 190 lần (năm 1992 là 14,99 tỷ đồng); tỷ lệ thu tiền điện đạt 100%.

- Năm 2019 đạt 382818 khách hàng sử dụng điện, tăng gấp 42 lần so với năm 1992 (9019 khách hàng).

-  Ngân sách Nhà nước tổng số tiền 299 tỷ đồng.

 

  

   Thành tích đạt được

Công ty Điện lực Sóc Trăng vinh dự được tặng thưởng các danh hiệu cao quý:  Huân chương Độc lập hạng Ba; Huân chương Lao động hạng Nhất, hạng Nhì, hạng Ba; Huân chương Chiến công hạng Ba; 04 bằng khen của Thủ tướng Chính phủ; Nhiều cá nhân, tập thể được ngành Điện, địa phương và Trung ương khen thưởng danh hiệu thi đua cao quý.

Thành tích đạt được cao nhất của Công ty Điện lực Sóc Trăng là đơn vị đã từng bước nâng cao uy tín ngành Điện tại địa phương, được đa số khách hàng đã thay đổi cách nhìn nhận khi nói đến phong cách phục vụ của CBCNV.

Năm 2020, Công ty thực hiện Chủ đề của Tập đoàn là Tập trung hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ kế hoạch 2016-2020, đơn vị đang triển khai thực hiện các công trìsnh đầu tư và phát triển điện trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng.

45 năm qua (1975-2020) xây dựng và phát triển là khoảng thời gian CB.CNV PCST vượt qua rất nhiều khó khăn thách thức, với lòng nhiệt huyết và truyền thống đoàn kết cùng tiến bộ đã tạo thành sức mạnh đưa đơn vị hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ được giao, đặc biệt là công tác phát triển điện.

Đạt được những thành tựu nêu trên là nhờ có sự quan tâm chỉ đạo của Tổng công ty Điện lực miền Nam, Tập đoàn Điện lực Việt Nam, Tỉnh ủy, HĐND, UBND Tỉnh; cùng sự hỗ trợ của các ban, ngành và Nhân dân trong tỉnh. Bên cạnh đó là sự lãnh đạo của Ban Giám đốc Công ty Điện lực Sóc Trăng và sự cống hiến sức lực, trí tuệ của các cán bộ lão thành; tinh thần nỗ lực, phấn đấu của toàn thể cán bộ nhân viên Công ty Điện lực Sóc Trăng.

LÃNH ĐẠO CÔNG TY ĐIỆN LỰC SÓC TRĂNG

 

CƠ QUAN  CÔNG TY ĐIỆN LỰC SÓC TRĂNG

-Địa chỉ: 113 Lê Hồng Phong, P3, TP Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng

-Điện thoại: 029 9382 1417

-Fax: 029 9368 6959

-Website: https://pcsoctrang.evnspc.vn

-Tổng số CBCNV: 852 người.

Khen thưởng cao nhất đã đạt được: Huân chương Độc lập hạng Ba (năm 2014)  

       

SƠ ĐỒ TỔ CHỨC CÔNG TY ĐIỆN LỰC SÓC TRĂNG

 PHẦN II: NHỮNG DẤU SON

BẢNG VÀNG 45 NĂM

CÔNG TY ĐIỆN LỰC SÓC TRĂNG

 Trong tiến trình 45 năm hình thành và phát triển (1975-2020), đặc biệt giai đoạn 28 năm kể từ khi đơn vị tái thành lập (1992-2020), với tinh thần nỗ lực khắc phục khó khăn, phát huy truyền thống đoàn kết, tập trung tâm sức và trí tuệ, Công ty Điện lực Sóc Trăng đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Những đóng góp của các thế hệ cán bộ, công nhân viên của Công ty đã được Nhà nước ghi nhận bằng những phần thưởng, những danh hiệu cao quý. Đó chính là niềm vinh dự, tự hào, là nguồn động viên lớn lao để tập thể đơn vị tiếp tục phấn đấu ngày càng phát triển và vững mạnh./.

 

 


TIN LIÊN QUAN