KHÁI QUÁT VỀ ĐIỆN TẠI TỈNH SÓC TRĂNG

 THỜI KỲ TRƯỚC NĂM 1975

Sóc Trăng là tỉnh thuộc khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, nằm trong hạ lưu sông Hậu; có bờ biển dài 72km và 3 cửa sông lớn là Định An, Trần Đề và Mỹ Thanh; có nhiều sông rạch và cù lao, bãi bồi. Là tỉnh có nhiều dân tộc cùng chung sống hài hòa, gắn bó từ bao đời nay, trong đó chủ yếu là 3 dân tộc Kinh (hơn 65%) – Hoa (6%) - Khmer (gần 30%), nên Sóc Trăng có nhiều nét văn hóa truyền thống đặc thù độc đáo. Nhân dân đa phần sinh sống bằng nghề nông nghiệp. Hiện trên địa bàn tỉnh có 8 huyện, 1 thành phố và 2 thị xã; 109 xã, phường, thị trấn. Tại Sóc Trăng, nhà máy nhiệt điện đầu tiên chạy bằng than củi đốt được người Pháp xây dựng vào thập niên đầu thế kỷ XX, tại bờ kinh De-La-Noux (tức địa điểm số 62, đường 30-4, TP.Sóc Trăng) do ông Messner phụ trách. Nhà máy được vận hành liên tục bởi một chuyên viên thợ điện người Pháp tên là Parol và 20 công nhân người bản xứ. Tuy nhiên, điện lúc này chỉ đủ cung cấp để thắp sáng một số con đường, cơ quan, dinh thự của các quan chức Pháp, một vài hiệu buôn lớn trong thị xã Sóc Trăng và Trung tâm thương mại Bãi Xàu.

Tháng 9/1922, Nhà máy điện được làng Khánh Hưng mua lại. Công suất của nhà máy cũng chỉ bảo đảm đủ điện chiếu sáng các đường phố, các công sở, các tư gia tại thị xã và Trung tâm thương mại Bãi Xàu.

Đến những năm 1927-1928, Nhà máy nhiệt điện tiếp tục nhượng lại cho Hãng năng lượng thuộc địa. Cùng với nhà máy nhiệt điện, tại thị xã Sóc Trăng lúc này còn có 01 nhà máy sản xuất nước đá của ông Messner chạy bằng động cơ điện và 01 nhà máy nước đá khác của ông Le Tourneau chạy bằng động cơ khí đốt. Mỗi nhà máy sản xuất trung bình mỗi ngày khoảng 300 kg nước đá và chỉ tiêu thụ tại địa phương.

Đến đầu thập niên 1940, người Pháp kéo dường dây điện từ Cần Thơ về Sóc Trăng và đến Bạc Liêu, cấp điện áp 31kV mở rộng cung cấp điện thêm cho các hộ dân trong thị xã Sóc Trăng.

Tóm lại, cho đến những thập niên 40 của thế kỷ XX, Sóc Trăng vẫn là một tỉnh nông nghiệp độc canh cây lúa và là một trong những vựa lúa hàng đầu của vùng châu thổ sông Cửu Long. Thủ công nghiệp phát triển chậm và chỉ đáp ứng một phần nhu cầu tiêu dùng rất khiêm tốn của cư dân sở tại. Công nghiệp hầu như chưa có gì đáng kể, ngoại trừ một nhà máy điện nhỏ chỉ đáp ứng đủ điện cho một phần nhu cầu chiếu sáng của thị xã Sóc Trăng và Trung tâm thương mại Bãi Xàu, 02 nhà máy xay xát gạo và các xưởng nấu rượu nếp của các chủ người Hoa, người Pháp.

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, chính quyền cách mạng công - nông đầu tiên của tỉnh Sóc Trăng ra đời. Ngay sau đó thực dân Pháp lăm le xâm lược nước ta lần thứ hai. Để ngăn chặn bước tiến của thực dân Pháp, chính quyền cách mạng ở Sóc Trăng đã phát động phong trào “Tiêu thổ kháng chiến” trong toàn tỉnh. Đặc biệt là tại tỉnh lỵ Sóc Trăng, lực lượng cách mạng tổ chức phá hỏng đường dây dẫn điện từ Cần Thơ về, gây trở ngại nhất định cho Pháp.

Năm 1946, Pháp đặt một máy phát điện 50 kW tại địa điểm sau nhà Bưu điện tỉnh để tăng cường thêm nguồn điện thắp sáng đường nội ô thị xã. Năm 1950 Pháp đưa thêm 2 máy công suất 150 kW để tăng cường nguồn điện cho nhân dân.

Đến khoảng đầu tháng 3-1962, Công ty Điện lực SCEE của Pháp mua đất và xây dựng Nhà máy điện Sóc Trăng (ngay tại địa điểm hiện nay - số 113, đường Lê Hồng Phong, Phường 3, thành phố Sóc Trăng). Đồng thời, tổ chức Điện lực SCEE của Pháp cũng ký hợp đồng với chính quyền Sài Gòn cũ mua lại quyền khai thác bán điện tại các tỉnh miền Tây, như: Long Xuyên, Sa Đéc, Vĩnh Long, Trà Vinh, Cần Thơ, Sóc Trăng... Lúc này tại Sóc Trăng đã được lắp đặt thêm 3 máy phát điện hiệu MAN, với công suất 62 kW/máy.

Năm 1968, Pháp bàn giao quyền khai thác điện cho Công ty Điện lực miền Nam (gọi tắt là CĐV). Lúc này, ở tỉnh lỵ Sóc Trăng đã có thêm 2 máy phát điện công suất 500kW và 1200kW phát điện cho toàn thị xã Sóc Trăng đến tận Bãi Xàu (nay là huyện Mỹ Xuyên); đồng thời, đặt 2 máy nhỏ (công suất mỗi máy 100kW) phát cho 2 huyện Long Phú và Kế Sách (sau này thêm ở mỗi huyện một máy 200kW khi máy 100kW bị hỏng).

                                    gioithieu 2
 

 

KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY ĐIỆN LỰC SÓC TRĂNG

QUA CÁC THỜI KỲ

 

  Đi lên cùng sự lớn mạnh, trưởng thành và phát triển của tỉnh Sóc Trăng và ngành Điện, Công ty Điện lực Sóc Trăng đã trải qua các thời kỳ hình thành và phát triển, đã thay đổi tên gọi cho phù hợp với chức năng nhiệm vụ sản xuất kinh doanh và mô hình hoạt động của ngành Điện, như sau:

Tiền thân của Công ty là Nhà máy điện Sóc Trăng do Công ty Điện lực SCEE từ thời Pháp thuộc quản lý (nhân dân thường gọi với tên Nhà Đèn). Trước năm 1975, Nhà máy điện Sóc Trăng thuộc Trung tâm Điện lực Phong Dinh - Khu Điện lực miền Tây, Điện lực Việt Nam (CĐV).

Ngày 30-4-1975, thị xã Sóc Trăng được hoàn toàn giải phóng. Nhà máy Điện Sóc Trăng được tiếp quản và trở thành Chi nhánh điện Sóc Trăng. 

 

                                                           gioithieu 3

 

Đến năm 1976 sáp nhập vào Sở Quản lý phân phối điện Hậu Giang thuộc Công ty Điện lực miền Nam, lực lượng cán bộ nhân viên khoảng 26 người.

 

                                                           gioithieu4

 

Ngày 17-4-1992, Sở Điện lực Sóc Trăng được thành lập cùng với thời điểm tách tỉnh Hậu Giang thành hai tỉnh Cần Thơ và Sóc Trăng

                         

Tháng 3-1996, Tổng công ty Điện lực Việt Nam ra quyết định đổi tên các Sở Điện lực trực thuộc Công ty Điện lực 2 thành Điện lực trực thuộc Công ty Điện lực 2. Sở Điện lực Sóc Trăng đổi tên thành Điện lực Sóc Trăng (không còn chức năng quản lý Nhà nước về điện).

Tháng 7-2010, Tổng công ty Điện lực miền Nam ra quyết định đổi tên Điện lực Sóc Trăng thành Công ty Điện lực Sóc Trăng (theo mô hình tổ chức của Công ty mẹ).

CHƯƠNG I

THỜI KỲ TỪ 1975 ĐẾN 1994

Tháng 4-1975, với nhiệm vụ vừa cải tạo, vừa sử dụng điện làm công cụ tham gia cải tạo kinh tế-xã hội, tạo ổn định lâu dài cho việc sản xuất phân phối điện, ngay từ khi tiếp quản, dòng điện đã được cán bộ, công nhân viên Chi nhánh điện Sóc Trăng giữ vững liên tục.

Toàn thị xã Sóc Trăng lúc bấy giờ có 9/94 xã phường có điện; 70 km đường dây hạ thế; Dung lượng trạm biến thế phân phối đạt 2500kVA (19 trạm); Tổng công suất các máy phát diesel khoảng 5.500kW. Sản lượng điện thương phẩm đạt 3,5 triệu kWh/năm; Điện năng tiêu thụ bình quân đầu người chỉ có 5 kWh/người/năm.

Cùng với khó khăn chung của cả nước, Chi nhánh điện Sóc Trăng đã hoạt động trong tình trạng thiếu nhiên liệu duy trì cho hoạt động cung cấp điện trong toàn Tỉnh (năm 1976 Chi nhánh điện Sóc Trăng sáp nhập vào Điện lực Cần Thơ) và phát điện độc lập chưa được trợ giúp từ nguồn điện lưới quốc gia, máy móc thiết bị không có phụ tùng thay thế.

Tuy nhiên, toàn thể cán bộ nhân viên đều cố gắng thực hiện tốt nhiệm vụ, các máy phát điện được sửa chữa bảo dưỡng và phát điện ổn định.

Năm 1983, sản lượng điện tiêu thụ bình quân 6kWh/người/năm; Hệ thống lưới điện hạ thế được tăng cường đảm bảo cho nguồn điện sản xuất ban ngày, đồng thời đảm bảo cho người dân thị xã Sóc Trăng và các thị trấn Kế Sách, Mỹ Xuyên, Long Phú có điện tiêu dùng ban đêm.

Trước những yêu cầu về nguồn điện tại thị xã Sóc Trăng và 6 huyện và qua xem xét khả năng quản lý của Chi nhánh điện Sóc Trăng, ngành Điện đã đầu tư xây dựng đường dây 110kV Cần Thơ - Sóc Trăng và lắp trạm 66/15 kV với tổng dung lượng 6MVA. Năm 1985, Sóc Trăng chính thức tiếp nhận lưới điện Quốc gia từ Trạm biến điện 66/15kV tại Quốc lộ I (MBA 6300kVA), mở ra thời kỳ mới về điện cho toàn khu vực Sóc Trăng.

Nắm bắt kịp thời triển vọng cung cấp điện, đơn vị đã tham mưu hỗ trợ địa phương trong công tác xây dựng đường dây 15, 35kV từ lưới điện quốc gia đến các thị trấn, huyện, xã.

Năm 1986, lưới điện quốc gia được đưa đến huyện Long Phú. Toàn thị xã Sóc Trăng có 7500 khách hàng sử dụng điện; 9/94 xã phường có điện; Sản lượng điện thương phẩm đạt 8,18 triệu kWh/năm; Điện năng tiêu thụ bình quân đầu người 8 kWh/người/năm. Công suất điện đạt 3,2 MW, tăng gấp 2 lần so với năm 1975. Tổng dung lượng trạm biến thế phân phối đạt 4000 kVA.

Năm 1987, lưới điện quốc gia được đưa đến các huyện thuộc đến Mỹ Tú, Kế Sách, Thạnh Trị và năm 1988 đến huyện Vĩnh Châu. Năm 1988, tất cả 6 huyện trong Thị xã Sóc Trăng đều có lưới điện quốc gia với 193 km đường dây trung thế được xây dựng mới (giai đoạn 1986 - 1988)   và hơn 40 km đường dây hạ thế.

Năm 1990, toàn thị xã Sóc Trăng có 30/94 xã phường có điện; Sản lượng điện thương phẩm đạt 31,24 triệu kWh/năm, tăng gấp 3,8 lần so với năm 1986; Điện năng tiêu thụ bình quân đầu người 24kWh/người/năm, tăng gấp 3 lần so với năm 1986. Công suất điện đạt 6,2 MW.

                                      

Tháng 4-1992, tỉnh Sóc Trăng được tái lập từ việc chia tách tỉnh Hậu Giang thành hai tỉnh Cần Thơ và Sóc Trăng. Cùng thời điểm này, Sở Điện lực Sóc Trăng được thành lập, với lực lượng cán bộ nhân viên 54 người (trong đó có 5 kỹ sư và trung cấp). Cơ sở vật chất, vật tư và thiết bị lưới điện trên địa bàn tỉnh đã xuống cấp sau nhiều năm vận hành; sự cố lưới điện nhiều gây tổn thất điện năng ở mức cao (15,1%).

Với đặc điểm của một tỉnh thuần nông và có đông đồng bào dân tộc Khmer sinh sống (gần 30%), hoàn cảnh khó khăn thiếu thốn, nhân dân và địa phương thiếu vốn làm điện. Toàn tỉnh chỉ có 10,5% số hộ có điện (22.150/220.320 hộ dân cư), trong đó có 9000 khách hàng sử dụng điện; 32/94 xã phường có điện (tỷ lệ 34%); 264 km đường dây trung thế; 86 km đường dây hạ thế; Sản lượng điện thương phẩm đạt 29,3 triệu kWh/năm; Điện năng tiêu thụ bình quân đầu người chỉ có 26 kWh/người/năm.

Toàn bộ lưới điện nông thôn lúc bấy giờ do Tổ điện xã, Ban quản lý điện cấp xã, các hộ cá nhân, Ban quản lý điện huyện quản lý và bán điện (bán lẻ); Sở Điện lực chỉ quản lý khu vực thị xã và các thị trấn Long Phú, Mỹ Xuyên, Kế Sách. Do có nhiều thành phần quản lý và bán điện, với nhiều giá bán điện khác nhau. Khó khăn rất lớn của Sóc Trăng lúc bấy giờ là thiếu vốn đầu tư và cơ chế quản lý điện nông thôn nhiều đầu mối.

Thực hiện chủ trương đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII đã xác định; công tác điện khí hóa nông thôn chuyển sang thời kỳ mới, Sở Điện lực Sóc Trăng thực hiện chức năng tham mưu cho UBND tỉnh Sóc Trăng trong việc thực hiện chương trình điện khí hóa nông thôn trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng, đặc biệt quan tâm phát triển điện điện đối với vùng nông thôn sâu, vùng đồng bào dân tộc, vùng căn cứ cách mạng, các xã Anh hùng. Đơn vị đã nỗ lực hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, nổi bật như sau:

Dồn sức cho công tác phát triển điện nông thôn

Điện lực đã cử cán bộ chuyên trách đến từng xã trong tỉnh để khảo sát và xác định nhu cầu về điện đồng thời cùng địa phương xác định các phương án phát triển, hình thức huy động vốn, trình tự cần thực hiện có kết hợp với các chính sách đãi ngộ ưu tiên vùng kháng chiến, vùng đồng bào dân tộc. Đồng thời phối hợp cùng Ủy ban Kế hoạch Tỉnh tham mưu cho UBND tỉnh thực hiện công tác quy hoạch phát triển tổng thể lưới điện trong toàn tỉnh Sóc Trăng và được thông qua năm 1995.

Đơn vị đã tranh thủ nguồn vốn đầu tư phát triển lưới điện của Công ty Điện lực 2 (nay là Tổng công ty Điện lực miền Nam) kết hợp với các biện pháp tiết kiệm và khai thác khả năng sản xuất kinh doanh, với phương thức “Nhà nước và nhân dân cùng làm”, Điện lực Sóc Trăng đã phối hợp với cấp huyện và Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn giúp dân vay vốn gắn điện kế trả dần, triển khai mô hình làm điện trả dần theo mùa vụ không tính lãi cho dân nghèo (3 - 6 tháng), gắn điện kế tặng Mẹ Việt Nam Anh hùng. Mặt khác, Điện lực đã kêu gọi các đơn vị thi công, cung ứng vật tư tạo điều kiện trả chậm, trả góp để phát triển đường dây. Qua đó, năm 1994 số hộ có điện đã tăng lên 30873 hộ, tăng 39% so với năm 1992.

 

Tốc độ phát triển giai đoạn 1975 – 1994

 

Chỉ tiêu/nhiệm vụ

Đơn vị tính

Năm 1975

Năm 1994

20 năm, Tốc độ tăng

Số xã, phường, thị trấn có điện

Xã, phường, TT

9/94

44/94

Tăng (+)

    389%

Sản lượng điện thương phẩm

Triệu KWh

3,5

43,42

(+)

 1.141%

Sản lượng điện bình quân đầu người

KWh/người/năm

5

36

(+)

    620%

Số km đường dây trung - hạ thế

Km

70

387

(+)

    453%

Trạm biến thế

Trạm

19

78

(+)

    311%

Dung lượng trạm biến thế phân phối

KVA

2.500

5.606

(+)

    124%

Công suất điện

MW

1,6

10

(+)

    525%

Trong chặng đường 20 năm qua, đặc biệt là từ khi tái lập Tỉnh đến nay, CBCNV Sở Điện lực Sóc Trăng đã vượt qua nhiều khó khăn thử thách, góp phần quan trọng trong việc xây dựng đơn vị và phát triển mạng lưới điện phục vụ công cuộc phát triển kinh tế, xã hội địa phương và sự phát triển của ngành Điện.

Đơn vị vinh dự đón nhận Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ và Huân chương Lao động hạng ba.

CHƯƠNG II

THỜI KỲ TỪ 1995 ĐẾN 2019

A.GIAI ĐOẠN 1995-2010

Thực hiện nhiệm vụ phát triển điện theo tinh thần chủ trương điện khí hóa nông thôn, công nghiệp hóa, hện đại hóa đất nước theo Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII đã xác định.

Tháng 3-1996, thực hiện Quyết định của Tổng công ty Điện lực Việt Nam đổi tên Sở Điện lực Sóc Trăng là Điện lực Sóc Trăng (không còn giữ chức năng quản lý nhà nước về điện, chỉ quản lý vận hành lưới điện trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng).

                               

Đơn vị đã thực hiện những công trình trọng điểm như sau:

I.Những công trình điện trọng điểm

1.Điện khí hóa ở xã Mỹ Phước Anh hùng

                                       

Từ năm 1996, Chính phủ ban hành Quyết định số 99/TTg về công tác điện khí hóa nông thôn, lĩnh vực phát triển điện đã có những bước nhảy vọt, Điện lực Sóc Trăng được Công ty Điện lực 2 giao thực hiện thí điểm điện khí hoá ở xã Mỹ Phước Anh hùng (công trình được khởi công ngày 15/10/1996), đây là xã được chọn điện hoá thí điểm đầu tiên trong 22 xã ở Đồng bằng Sông Cửu Long, với địa hình rất đặc trưng cho vùng đồng bằng sông Cửu Long (địa hình bằng phẳng, nhiều sông rạch chằng chịt, mùa nước nổi tháng 11, di chuyển đi lại thi công bằng tàu đò rất khó khăn). Công trình hoàn thành có ý nghĩa rất quan trọng về chính trị-văn hoá- kinh tế-xã hội tại địa phương, bước đầu điện hoá được 1000/3090 hộ dân của xã, đạt tỷ lệ 32,4%. Thể hiện chính sách đền ơn đáp nghĩa của Đảng và Nhà nước đối với vùng căn cứ cách mạng. Đưa điện về Mỹ Phước là đưa điện về quê hương của 33 Mẹ Việt Nam anh hùng, quê hương của trên 1000 liệt sĩ. Thể hiện chính sách đoàn kết tôn giáo và dân tộc của Đảng và Nhà nước (công  trình đưa điện về được 3 nhà thờ công giáo ở ấp Phước Thọ và trên 300 hộ dân người công giáo có điện. Đồng thời công trình đi qua 2 xã người Khmer của huyện Mỹ Tú (Thuận Hưng và Mỹ Thuận), bước đầu điện hoá được 2 trung tâm xã, 1 chù Khmer (chùa Tam Sóc) và trên 600 hộ dân tộc Khmer có điện). Tạo tiền đề cho ngành công nghiệp xay xát lúa gạo dọc theo khu vực Tam Sóc và điện khí hoá các xã lân cận. Công trình hoàn thành tốt đẹp vào cuối năm 1997. Xác lập cột mốc “Toàn bộ xã đất liền có điện”.

                                         

Với những nỗ lực nêu trên, năm 1997 đơn vị vinh dự đón nhận Huân chương Lao động hạng ba do Chủ tịch nước tặng thưởng.

2.Điện khí hoá 4 xã trên địa bàn Cù Lao Dung (huyện Long Phú)

Thành công từ công trình điện khí hóa thí điểm nêu trên đã làm tiền đề tiếp tục thực hiện công tác điện hoá tại Cù Lao Dung.

Đơn vị đã tham mưu cho UBND tỉnh ưu tiên chọn điện khí hóa 4 xã trên địa bàn Cù Lao Dung (thuộc huyện Long Phú). Công trình được khởi công vào đầu năm 1997 với số vốn đầu tư 26 tỷ đồng, kéo điện vượt sông bằng 2 trụ vượt cao hơn 90 mét, hoàn thành vào tháng 12-1998, cung cấp điện cho 4000 hộ, phục vụ sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy hải sản cho vùng đất Cù Lao Dung.

                                                    

 

3.Điện khí hóa xã Phong Nẫm của huyện Kế Sách

                                             

 

Cũng trong năm 1998, đơn vị đưa điện lưới Quốc gia từ huyện Trà Ôn của tỉnh Vĩnh Long vượt sông Hậu về cấp điện cho Cù lao Phong Nẫm (thuộc huyện Kế Sách) với số vốn đầu tư 3,43 tỷ đồng, công trình hoàn thành nhân dịp lễ Quốc khánh 2-9-1999. Tiếp tục xác lập cột mốc mới: 100% xã, phường trong tỉnh có lưới điện Quốc gia. Hoàn thành trước kế hoạch một năm so với Quyết định 99/TTg của Thủ tướng Chính Phủ "đến năm 2000 đưa điện lưới quốc gia về 100% trung tâm xã, phường, thị trấn”.

                                                  

4.Nhiều công trình điện khí hóa bằng nhiều nguồn vốn khác nhau, đặc biệt là nguồn vốn vay Ngân hàng thế giới

Được sự quan tâm đầu tư của Công ty Điện lực 2 và địa phương, đơn vị đã triển khai các công trình điện thông qua việc tranh thủ nhiều nguồn vốn khác nhau: Giai đoạn 2000-2002: từ nguồn vốn của tỉnh cho ngành Điện mượn 20 tỷ đồng và trả trong 3 năm; nguồn vốn khấu hao cơ bản của ngành Điện tặng cho tỉnh Sóc Trăng 01 công trình điện khí hóa; nguồn vốn vay WB để điện khí hóa 18 xã; bằng nguồn vốn AFD cho 4 xã để điện khí hóa các khu vực văn hoá, kinh tế, khu vực nuôi trồng thủy sản và khu vực đồng bào dân tộc Khmer

                                                                       gioithieu 8

Từ nguồn điện Quốc gia, những cánh đồng nhiễm mặn quanh năm đã được thay thế bằng những ao nuôi thủy sản công nghiệp cho lợi nhuận cao, là ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh. Qua đó, đã tháo gỡ khó khăn về nguồn vốn đầu tư phát triển điện.

Với những nỗ lực nêu trên, năm 2003 đơn vị vinh dự đón nhận Huân chương Lao động hạng nhì do Chủ tịch nước tặng thưởng.

5. Công trình lưới điện phân phối thị xã Sóc Trăng

Đơn vị thực hiện công trình lưới điện phân phối thị xã Sóc Trăng với số vốn đầu tư 13,5 tỷ đồng, cung cấp điện cho các khu vực dân cư vùng ven thị xã, khu vực đồng bào dân tộc và các hộ nghèo của 10 phường; nâng tỷ lệ điện khí hóa hộ của thị xã đạt 100%. Góp phần đưa thị xã Sóc Trăng được công nhận là đô thị loại III trực thuộc tỉnh Sóc Trăng vào tháng 11-2005

                                                       

Sau những năm đẩy mạnh phát triển điện, lưới điện đã phủ khắp 100%  xã, phường, thị trấn. Nâng tổng số hộ sử dụng điện lên 267.380 hộ, đạt tỷ lệ 91,52% vào năm 2007, đơn vị đã hoàn thành chỉ tiêu trước 3 năm theo Nghị quyết Đảng bộ tỉnh Sóc Trăng lần thứ XI “Phấn đấu kết thúc kế hoạch 5 năm (2006-2010) có trên 90% hộ dân có điện”. Bộ mặt nông thôn và thành thị Sóc Trăng đã rạng rỡ, góp phần đưa thị xã Sóc Trăng được Chính phủ công nhận thành phố trực thuộc tỉnh vào năm 2007.

6. Công trình điện khí hóa xã An Tấn và An Công (xã An Lạc Tây, huyện Kế Sách)

Tháng 4-2009, đơn vị tiếp tục đưa điện lưới Quốc gia vượt sông Hậu về cấp điện cho ấp An Tấn và An Công (thuộc xã An Lạc Tây, huyện Kế Sách), xác lập cột mốc mới “100% số ấp toàn tỉnh có điện”.

7. Đẩy mạnh đầu tư nhiều công trình điện cải thiện chất lượng điện áp, nguồn điện vận hành ổn định, đáp ứng được nhu cầu cung cấp và sử dụng điện trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng:

Vừa đẩy mạnh công tác phát triển điện nông thôn đồng thời đầu tư các công trình nâng cấp điện áp, đảm bảo cung cấp điện ổn định và an toàn, năm 1994, đơn vị đã nâng cấp đường dây 66 kV và đưa máy biến áp 66 kV lên 110 kV và đưa MBA 13,8 MVA trạm 110 kV Sóc Trăng vào vận hành. Năm 1997, đưa máy biến áp 25 MVA trạm 110 kV Sóc Trăng vào vận hành.

Để công tác quản lý hệ thống điện chặt chẽ, giảm thời gian mất điện và xử lý sự cố nhanh chóng, thuận lợi trong việc khai thác nguồn điện, năm 1998 Điện lực đã tổ chức mô hình quản lý điện nông thôn hợp lý, qua việc lập tổ quản lý điện xã -liên xã có bán kính thích hợp làm tăng hiệu quả quản lý.

Năm 1999, hoàn thành công trình nâng cấp toàn bộ lưới điện phân phối lên cấp điện áp chuẩn 22kV, Sóc Trăng là tỉnh đầu tiên trong cả nước (tháng 9/1999) sử dụng 1 cấp điện áp chuẩn 22kV cho toàn bộ lưới phân phối.

Năm 2000, đơn vị được giao quản lý 168 km đường dây cao thế từ Trà Nóc đến Cà Mau. Tháng 9-2001, đơn vị đã thay máy biến áp 13,8 MVA bằng máy biến áp 40 MVA 110 kV/22 kV trạm Sóc Trăng, cũng từ thời điểm này nguồn điện vận hành đã ổn định, đáp ứng được nhu cầu cung cấp và sử dụng điện trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng.

                                                   

 

                                  

Đến năm 2003, đơn vị đã sửa chữa và xây dựng mới hơn 90% lưới điện hạ áp phục vụ khu vực ánh sáng sinh hoạt tại thị xã Sóc Trăng, tất cả các huyện đều có 2 nguồn điện (mạch vòng trung áp).

Năm 2005 đơn vị tiếp tục hoàn thành công trình xây dựng đường dây 110 kV và trạm biến áp 110 kV Đại Ngãi, trạm biến áp 110 kV Trần Đề; Năm 2006 xây dựng trạm 110 kV Mỹ Tú. Tổng giá trị đầu tư hơn 170 tỷ đồng.

II. Giúp địa phương chuyển đổi mô hình quản lý điện nông thôn; Điện lực tiếp nhận quản lý toàn bộ lưới điện nông thôn để bán điện đến từng hộ

Đơn vị đã tham mưu cho địa phương khắc phục tình trạng quản lý phân phối điện nhiều đầu mối; giao Điện lực tiếp nhận quản lý toàn bộ lưới điện nông thôn (đơn vị đã tiến hành xóa cụm, tiếp quản lưới điện nông thôn từ các Ban Quản lý điện các huyện và những trạm tư nhân) để bán trực tiếp đến từng hộ dân (là Điện lực đầu tiên trong cả nước bán điện tận hộ trong toàn tỉnh). Do vậy, từ cuối năm 2002, giá bán điện giữa nông thôn và thành thị tại Sóc Trăng như nhau.

                                                  

 

Năm 2003, đơn vị đã giúp địa phương chuyển đổi mô hình quản lý điện nông thôn, tăng cường gặp gỡ khách hàng mua điện qua điện kế tổng để khuyến khích khách hàng bàn giao lưới điện cho Điện lực bán điện tận hộ. Đến cuối quý I-2004, đơn vị đã quản lý bán điện trực tiếp 100% xã, phường, thị trấn; khắc phục được tình trạng quản lý phân phối điện nhiều đầu mối, nhân dân phải mua điện giá cao. Qua đó, đã giúp địa phương giải quyết được bài toán khó về cơ chế quản lý điện nông thôn.

Đặc biệt, đơn vị đã cải tiến công tác sắp xếp bộ máy thu tiền điện và ghi điện bước đầu là hợp đồng khoán (năm 2002), sau đó (năm 2003) Điện lực được Công ty Điện lực 2 giao thực hiện thí điểm mô hình đại lý dịch vụ bán lẻ điện nông thôn (nay là Dịch vụ bán lẻ điện) hoàn thành, hiệu quả đạt được là tiết kiệm được khoảng 40% chi phí quản lý, được Công ty Điện lực 2 và Tổng công ty Điện lực Việt Nam biểu dương về thành tích "Đóng góp sáng tạo của ĐLST v/v tổ chức vài Đại lý trên 1 xã, tạo tiền đề cho việc chọn đại lý thông qua đấu thầu chi phí có thể được áp dụng sau này".

Tốc độ phát triển giai đoạn 1995-2004:

 

Chỉ tiêu/nhiệm vụ

Đơn vị tính

Năm 1995

Năm 2004

 10 năm, Tốc độ tăng

Số xã, phường, thị trấn có điện

Xã, phường, TT

67/94

105/105

Hoàn thành 100%

Sản lượng điện thương phẩm

Triệu KWh

55,9

304,31

Tăng (+)

444%

Sản lượng điện bình quân đầu người

KWh/người/năm

46

245

(+)

433%

Số km đường dây trung thế

Km

458

2.046

(+)

347%

Số km đường dây hạ thế

Km

175

2.934

(+)

1.577%

Trạm biến thế

Trạm

370

2.585

(+)

599%

Dung lượng trạm biến thế phân phối

KVA

32.130

164.145

(+)

411%

Số khách hàng sử dụng điện

Khách hàng

13.575

156.957

(+)

1.056%

Số hộ có điện

Hộ

39.581

188.969

(+)

377%

Giá bán điện bình quân

Đồng/KWh

529,48

776,56

(+)

47%

Doanh thu

Tỷ đồng

29,6

236,41

(+)

698%

Công suất điện

MW

10,2

55,7

(+)

    546%

Nộp ngân sách Nhà nước, tổng số tiền 58,03 tỷ đồng

Đơn vị được Chủ tịch Nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng nhì.

 

B.GIAI ĐOẠN 2005-2014

I.Viễn thông Điện lực

Từ năm 2005, đơn vị triển khai thi công mạng truyền dẫn nội hạt với 47 BTS phủ sóng trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng để kinh doanh viễn thông công cộng.

                                                          

Năm 2007, đơn vị đạt “giải vàng” trong đợt thi đua phát triển thuê bao viễn thông “Chương trình quà tặng đặc biệt dành cho khách hàng thứ 1.000.000 của EVNTelecom” và đạt giải “Năng động” đợt thi đua “Mừng Quốc khánh và chào mừng khách hàng thứ 2.000.000” của EVNTelecom.

Năm 2009, đơn vị phát triển hơn 84.000 thuê bao viễn thông và 53 BTS.

II.Đầu tư phát triển điện

1.Dự án “Cung cấp điện cho các hộ dân chưa có điện, chủ yếu là đồng bào dân tộc Khmer tỉnh Sóc Trăng”

Đơn vị đã triển khai thực hiện Dự án “Cung cấp điện cho các hộ dân chưa có điện chủ yếu là đồng bào dân tộc Khmer tỉnh Sóc Trăng” với tổng số vốn đầu tư 618,05 tỷ đồng; dự án được khởi động vào tháng 9-2009, đến năm 2011 triển khai thi công; chia làm 3 giai đoạn: Giai đoạn I (2011-2012); Giai đoạn II (2012-2015); Giai đoạn III (2015-2016) và hoàn thành vào năm 2016. Cấp điện cho 45.551 hộ dân, nâng tỷ lệ hộ có điện lên 99,4 %

                                     

Dự án mang ý nghĩa quan trọng về chính trị - xã hội, thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Đảng và Nhà nước đến đời sống của người dân, nhất là đồng bào Khmer; người dân có điều kiện giải trí, tiếp nhận thông tin nhiều hơn; làm thay đổi bộ mặt nông thôn vùng sâu, vùng xa; cải thiện đời sống vật chất và tinh thần.

                                      

 

Tốc độ phát triển giai đoạn 2005-2014:

Chỉ tiêu/nhiệm vụ

Đơn vị tính

Năm 2005

Năm 2014

 10 năm, Tốc độ tăng

Số xã, phường, thị trấn có điện

Xã, phường, TT

105/105

109/109

Hoàn thành 100%

Sản lượng điện thương phẩm

Triệu KWh

342,26

913,14

(+)

167%

Sản lượng điện bình quân đầu người

KWh/người/năm

291

700,43

(+)

141%

Số km đường dây trung thế

Km

2.134

2.842

(+)

33%

Số km đường dây hạ thế

Km

3.009

4.416

(+)

47%

Trạm biến thế

Trạm

2.700

4.773

(+)

77%

Dung lượng trạm biến thế phân phối

KVA

172.820

432.667

(+)

150%

Số khách hàng sử dụng điện

Khách hàng

175.720

294.775

(+)

68%

Số hộ có điện

Hộ

208.531

307.911

(+)

48%

Giá bán điện bình quân

Đồng/KWh

778,10

1.529,65

(+)

97%

Doanh thu

Tỷ đồng

266,31

1.396,79

(+)

425%

Công suất điện

MW

62,1

160

(+)

    257%

Nộp ngân sách Nhà nước, tổng số tiền 86,67 tỷ đồng

Đơn vị được Chủ tịch Nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng nhất và Huân chương Độc lập hạng ba.

C.GIAI ĐOẠN 2015-2019

Năm 2015 cũng là năm kết thúc kế hoạch 2011-2015 và chuẩn bị kế hoạch 2016-2020. Mặc dù khối lượng công việc phần lớn đều mang tính cấp bách, nhưng đơn vị đã vượt qua khó khăn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ: đảm bảo cung cấp đủ điện cho phát triển kinh tế - xã hội và đời sống nhân dân, không thực hiện điều hòa tiết giảm phụ tải. Trước tình hình ảnh hưởng của suy giảm kinh tế, tốc độ tăng điện thương phẩm giai đoạn này đạt 11,3%/năm. Sản lượng điện tiêu thụ bình quân đầu người năm 2015 đạt 745 kWh/người/năm, tăng 69,3% so với năm 2010 (440 kWh/người/năm).

I.Các dự án công trình điện trọng điểm:

Năm 2015, đơn vị hoàn thành các công trình xây dựng đường dây 110kV Sóc Trăng – Vĩnh Châu và TBA 110kV Vĩnh Châu; Xây dựng TBA 110kV Thạnh Trị và đường dây đấu nối.

                            

-Dự án “Nâng cao hiệu quả năng lượng khu vực nông thôn” vay vốn Ngân hàng Tái thiết Đức (vốn đầu tư 9,4 tỷ đồng; 5,67 km đường dây trung thế (ĐDTT), 17,8 km đường dây hạ thế (ĐDHT) và 13 trạm biến áp (TBA) với tổng dung lượng 1132,5 kVA) cấp điện cho 308 hộ dân.

-Dự án RD cải tạo lưới điện phân phối nông thôn, tổng vốn đầu tư 31,56 tỷ đồng (126 km ĐDTT, 13 TBA với tổng dung lượng 245 kVA) cấp điện cho 308 hộ dân.

-Dự án Cấp điện cho khu vực nuôi tôm nước lợ vay vốn BPL3, cải tạo và xây dựng mới 144 km ĐDTT; 471,7 km ĐDHT; 340 TBA với tổng dung lượng 33.120 kVA, khắc phục tình trạng quá tải cục bộ do sản xuất bộc phát, giúp duy trì cung cấp điện phục vụ đời sống và sản xuất cho người dân trên địa bàn.

-Dự án Cải tạo nâng cấp lưới điện phân phối tại các thành phố vừa và nhỏ tỉnh Sóc Trăng (vay vốn KfW), cải tạo và xây dựng 80,4 km ĐDTT; 85,94 km ĐDHT; TBA 22/0,4 kV khoảng 9,65 MVA; cải thiện tình trạng điện áp thấp, giảm tổn thất điện năng, khắc phục các vị trí mất an toàn; hoàn chỉnh dần lưới điện.

-Công trình ứng vốn ngân sách của Tỉnh cấp điện cho 17 xã nông thôn mới giai đoạn 2018-2020 (51,58 km ĐDTT; 116,26 km ĐDHT; 103 TBA; dung lượng 4.625 kVA) cấp điện 2.608 hộ dân.

Ưu tiên thực hiện các công trình điện nhằm ổn định điện áp, nâng cao độ tin cậy cung cấp điện, giảm tổn thất điện năng đối với các khu vực xa nguồn trước đây thường xuyên vận hành trong điều kiện bất lợi: Năm 2016, hoàn thành công trình cải tạo TBA 110kV Sóc Trăng. Năm 2017, hoàn thành các công trình: Lắp máy biến áp T2 (40MVA) TBA 110kV Vĩnh Châu; Thay máy biến áp T2 – 40MVA bằng 63MVA TBA 110kV Sóc Trăng; Xây dựng Trạm 110kV Cù Lao Dung.

Năm 2018, hoàn thành công trình lắp máy biến áp T2 (25MVA) TBA 110kV Đại Ngãi. Năm 2019, hoàn thành công trình xây dựng TBA 110kV Mỹ Xuyên và đường dây đấu nối.

Hoàn thành các công trình đã giúp đảm bảo nguồn cung cấp điện phục vụ sản xuất phát triển kinh tế, đặc biệt là tưới tiêu và nuôi trồng thủy sản.

 

II.Ứng dụng công nghệ trong điều hành sản xuất kinh doanh

Đơn vị đã triển khai chương trình Quản lý kỹ thuật (PMIS) của Tập đoàn, chương trình quản lý được tài sản hiện có trên lưới điện phân phối và tình hình vận hành lưới điện một cách trực quan; giúp hiện đại hóa công tác quản lý lưới điện, giảm bớt thao tác thủ công tính toán, thống kê báo cáo.

Triển khai hệ thống điều khiển vận hành thiết bị từ xa của Viettel để truy xuất dữ liệu từ xa qua Recloser, cảnh báo tức thời các sự cố thoáng qua, vĩnh cửu, bằng âm thanh, ghi nhận và lưu trữ các thông số dòng điện từng pha, các sự kiện trên máy tính.

Đồng thời, từ tháng 6-2019 Công ty cũng đã triển khai áp dụng Hệ thống quản lý độ tin cậy lưới điện OMS để phục vụ công tác vận hành hệ thống lưới điện, dùng để theo dõi, tính toán chỉ số độ tin cậy cung cấp điện.

Ngoài các hệ thống chương trình dùng chung do Tập đoàn và Tổng công ty triển khai, Công ty đã xây dựng các phần mềm phục vụ cho công tác như:

Chương trình Quản lý nhánh rẽ khách hàng trên thiết bị di động: Phục vụ cho công tác theo dõi và quản lý thông tin nhánh rẽ khách hàng sử dụng điện, khắc phục các khuyết tật dây nhánh của khách hàng giúp công tác giảm tổn thất điện năng hiệu quả hơn.

Chương trình Kiểm tra lưới điện định kỳ bằng thiết bị di động giúp theo dõi, giám sát nhân viên kiểm tra lưới điện bằng định vị GPS và thời gian trên thiết bị; thông tin kiểm tra và hình ảnh hiện trạng đường dây, trụ, trạm biến áp,… được truyền về cập nhật dữ liệu lên máy chủ thông qua mạng internet.

*Ứng dụng công nghệ thông tin vào phục vụ công tác kiểm tra lưới điện định kỳ; Giám sát, điều khiển máy cắt trung thế (recloser) từ xa; Giám sát và điều khiển tụ bù trung thế từ xa; Giám sát mất điện các trạm biến áp từ xa.

-Ứng dụng các thiết bị mới: Chống sét van hotline, thiết bị phối hợp bảo vệ với recloser, máy cắt (Fusesaver).

III.Kinh doanh điện năng:

1.Nâng cao chất lượng dịch vụ khách hàng

Thực hiện phương châm “3 dễ”: Dễ tiếp cận - Dễ tham gia - Dễ giám sát; đơn vị đã không ngừng nâng chất lượng dịch vụ khách hàng ngày càng tốt hơn: Đơn vị đã chuẩn hóa hệ thống 12 phòng giao dịch khách hàng tại Công ty và các Điện lực trực thuộc. CBCNV được đào tạo chuyên nghiệp hướng dẫn, tư vấn chu đáo trong giao tiếp với khách hàng.

Đơn vị đã cung cấp dịch vụ trực tuyến và kết nối với cổng thông tin “Dịch vụ công trực tuyến tỉnh Sóc Trăng” http://motcua.soctrang.gov.vn/ để triển khai cung cấp các dịch vụ điện (bao gồm cả dịch vụ cấp điện trung áp) với Website của Trung tâm chăm sóc khách hàng www.cskh.evnspc.vn, khách hàng có thể truy cập vào Website để đăng ký các dịch vụ điện. 

Áp dụng chương trình Quản lý khách hàng (CMIS 3.0) của Tập đoàn triển khai, là một hệ thống thông tin tích hợp trên nền tảng công nghệ hiện đại, nhằm đáp ứng đầy đủ các yêu cầu về quy trình nghiệp vụ kinh doanh điện năng. Tạo thành một chu trình sản xuất khép kín, quản lý thông tin khách hàng từ khi ký đến khi thanh lý hợp đồng.

Cung cấp hợp đồng điện tử, số hóa toàn bộ hồ sơ liên quan đến dịch vụ điện và ảo hóa giao tiếp giữa ngành Điện và khách hàng, từ đăng ký hồ sơ, triển khai dịch vụ và ký hợp đồng, khách hàng và nhân viên Điện lực không phải gặp nhau trực tiếp. Tất cả các công đoạn đều được thực hiện trên môi trường Internet. Khách hàng sử dụng các thiết bị kết nối Internet để cung cấp hồ sơ, nhận thông tin, xác thực. Việc ký các hồ sơ điện tử được thực hiện theo phương thức mật khẩu một lần (OTP) hoặc chữ ký điện tử (CA) đối với doanh nghiệp. Rút ngắn quá trình cung cấp dịch vụ, nâng cao năng suất lao động, giúp tiết kiệm chi phí kinh doanh, đơn giản và thuận tiện trong quản lý, giám sát việc triển khai giải quyết yêu cầu khách hàng tại các đơn vị Điện lực.

 

                                             

Hệ thống thu thập dữ liệu công tơ từ xa PLC và IFC cũng đã triển khai lắp đặt trên 100.000 khách hàng, Chương trình ghi nhận các thông số vận hành và cảnh báo của công tơ điện tử từ xa, tập trung về các hệ thống server đo ghi xa EVNHES và MDMS. Lợi ích Hệ thống đo ghi xa là: Chốt chỉ số điện năng tiêu thụ của khách hàng chính xác, đồng thời mà không cần đến nhà khách hàng ghi chỉ số để tính hóa đơn tiền điện. Giám sát thường xuyên chế độ sử dụng điện của khách hàng để phục vụ công tác quản lý cung cấp điện cũng như công tác quản lý khách hàng được tốt hơn.

Các chỉ số độ tin cậy cung cấp điện: tổng thời gian mất điện khách hàng bình quân (SAIDI); Tần suất mất điện thoáng qua bình quân (MAIFI); Tần suất mất điện kéo dài bình quân (SAIFI) tiếp tục cải thiện đáng kể so với năm trước.

Đơn vị đẩy mạnh công tác truyền thông, tăng cường quảng bá các cải tiến chất lượng dịch vụ để khách hàng sử dụng điện biết và sử dụng dịch vụ, thông tin đầy đủ về giá điện.

                                            

 

Với sự nỗ lực vượt trội của toàn thể CBCNV Công ty, trong những năm qua, điểm bình quân mức độ hài lòng của khách hàng tăng khá giỏi: Năm 2015 đạt 7,1/10 điểm; Năm 2016 đạt 7,85/10 điểm; Năm 2017 đạt 8,58/10 điểm; Năm 2018 đạt điểm 8,66/10 điểm; Năm 2019 đạt điểm 8,42/10 điểm.

Tốc độ phát triển giai đoạn 2015-2019:

Chỉ tiêu/nhiệm vụ

Đơn vị tính

Năm 2015

Năm 2019

 5 năm, Tốc độ tăng (%)

Số xã, phường, thị trấn có điện

Xã, phường, TT

109/109

109/109

Hoàn thành 100%

Sản lượng điện thương phẩm

Triệu KWh

975,4

1427,14

(+)

     146.31

Sản lượng điện bình quân đầu người

KWh/người/năm

745

1189

(+)

     159.60

Số km đường dây trung thế

Km

2775

3313

(+)

     119.39

Số km đường dây hạ thế

Km

4481

5374

(+)

     119.93

Trạm biến thế

Trạm

5172

6289

(+)

     121.60

Dung lượng trạm biến thế

MVA

479,05

335,16

(+)

       69.96

Số khách hàng sử dụng điện

Khách hàng

317804

382818

(+)

     120.46

Số hộ có điện

Hộ

322960

382818

(+)

     118.53

Giá bán điện bình quân

Đồng/KWh

1623,5

1838

(+)

     113.21

Doanh thu

Tỷ đồng

1583,6

2852,6

(+)

     180.14

Nộp ngân sách Nhà nước, tổng số tiền 150, 28 tỷ đồng

 

CHƯƠNG III

THÀNH TỰU 28 NĂM THÀNH LẬP CÔNG TY

 

I.Công tác Đào tạo, phát triển nguồn nhân lực

 

I.Công tác Đào tạo, phát triển nguồn nhân lực

Hoàn cảnh kinh tế của Sóc Trăng thời kỳ tái lập tỉnh rất nhiều khó khăn, lương thấp, khó thu hút cán bộ kỹ thuật điện và kỹ sư. Vì vậy, để mỗi Chi nhánh điện (nay là Điện lực huyện - thị xã - thành phố) có từ 1 - 2 kỹ sư điện, ngay từ năm 1997, đơn vị đã mạnh dạn đưa đi đào tạo tại chức 9 kỹ sư điện công nghiệp. Sau đó, bình quân hàng năm đào tạo từ 13 lượt người thuộc các trình độ cử nhân, kỹ sư, trung cấp liên thông, đặc biệt có 2 người được đào tạo Thạc sỹ. Hơn 260 lượt người được đào tạo lại, đáp ứng kịp thời yêu cầu nhiệm vụ.

                                              

                                                                                Ảnh: Hội thi thợ giỏi

 

Bình quân mỗi năm có hơn 85 lớp đào tạo, bồi huấn nghiệp vụ do Tổng công ty và Công ty tổ chức, với hơn 2.647 lượt CB.CNV tham dự (đảm bảo 100% CB.CNV đều được đào tạo, bình quân mỗi cá nhân được đào tạo 3 lượt/năm).

                                     

                                                      Ảnh: Bồi huấn sát hạch kiến thức Quy trình KTAT điện

Trình độ CBCNV được nâng lên rõ rệt, đến năm 2019, tổng số CBCNV là 856, trong đó có 18 Thạc sỹ, 240 Đại học, 265 Cao đẳng - Trung cấp, 331 Công nhân kỹ thuật. Hệ thống tổ chức bao gồm 11 Phòng, 11 Điện lực và 01 Đội Quản lý vận hành lưới điện cao thế.

Bộ máy tổ chức phát triển:

Đơn vị đã xây dựng mô hình quản lý điện nông thôn hợp lý: lập 30 Tổ điện quản lý điện xã, liên xã có bán kính thích hợp. Thành lập Ban Quản lý điện nông thôn, các Chi nhánh điện huyện/thị xã để tiếp nhận, sửa chữa và nâng cấp lưới điện, bán điện trực tiếp đến hộ dân:

Năm 1998

Thành lập Ban Quản lý dự án điện nông thôn.

Năm 1999

Thành lập Chi nhánh điện Cù Lao Dung.

Năm 2000

Năm 2002

Thành lập Đội Quản lý vận hành lưới điện Cao thế.

Thành lập 2 Chi nhánh điện: Vĩnh Châu, Thạnh Trị.

Năm 2003

 

Thành lập 4 Chi nhánh điện: Mỹ Xuyên, Mỹ Tú, Kế Sách, Long Phú.

Năm 2004

Thành lập 2 Chi nhánh điện: Thị xã Sóc Trăng, Ngã Năm.

Năm 2009

Thành lập Chi nhánh điện Châu Thành

Tháng 7-2010, Tổng công ty Điện lực miền Nam ra quyết định đổi tên Điện lực Sóc Trăng là Công ty Điện lực Sóc Trăng. Các Chi nhánh điện trực thuộc cũng được nâng lên là Điện lực cho phù hợp với cơ cấu tổ chức.

Cũng trong năm 2010, Công ty thành lập Điện lực Trần Đề trên cơ sở chia tách địa giới hành chính các huyện trong tỉnh Sóc Trăng.

Quy mô quản lý giai đoạn 1992-2019 tăng nhanh:

Từ 48 trạm biến áp có tổng dung lượng 4591 kVA lên tới 4164 trạm có tổng dung lượng 3351,63 MVA (tăng gấp 86 lần). Từ 223 km đường dây trung thế lên tới 3147 km (tăng gấp 14 lần). Từ 57 km đường dây hạ thế lên đến 5349 km (tăng gấp 93 lần);

100% (106/106) trung tâm xã, phường, thị trấn có điện.

-Số khách hàng sử dụng điện đạt 116% (382.818 / 321.586 tổng số hộ trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng, tăng gấp 42,5 lần so với năm 1992 (9000 khách hàng).

Tốc độ tăng trưởng:

Năm 2019, sản lượng điện thương phẩm đạt 1 tỷ 427 triệu kWh; tăng 49 lần so với năm 1992; tăng trưởng bình quân 15,6%/năm.

-Điện tiêu thụ bình quân đầu người được tăng lên từ 26 kWh/người/năm (năm 1992) đến năm 2019 là 1189 kWh/người/năm (1.427.140.000 kWh/1.199.653 người); tăng gấp 45,7 lần so với năm 1992.

-Giá bán điện bình quân là 1838 đồng/kWh, tăng gấp 3,6 lần (năm 1992 là 512 đồng/kWh);

-Doanh thu bán điện đạt mức 2852 tỷ 477 triệu đồng, tăng gấp 190 lần (năm 1992 là 14,99 tỷ đồng); tỷ lệ thu tiền điện đạt 100%.

II.Công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị cơ sở

Đảng bộ Công ty Điện lực Sóc Trăng có 305 đảng viên, sinh hoạt trong 18 Chi bộ. Từ khi thành lập đến nay. Dưới sự chỉ đạo của Đảng ủy các Cơ quan và DN tỉnh Sóc Trăng, Đảng bộ Công ty luôn quan tâm công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ. Nổi bật công tác phối hợp Trường Chính trị Sóc Trăng tổ chức lớp đào tạo Trung cấp chính trị hành chính cho cán bộ đảng viên. Hàng năm đều được công nhận là Đảng bộ trong sạch vững mạnh, Hoàn thành tốt nhiệm vụ.

                                                      

Công đoàn PCST, dưới sự lãnh đạo của Đảng ủy Công ty, sự chỉ đạo của Công đoàn Tổng công ty Điện lực miền Nam; có 856 đoàn viên (100% CBCNV đều là đoàn viên), sinh hoạt trong 23 Công đoàn bộ phận.

                                                     

                                                           Ảnh: Công đoàn Công ty nhận giải thưởng Doanh nghiệp vì người lao động.

 

                                                   

                                                                    Nữ công có 172 chị, 20% số CBCNV trong Công ty.

            

Đoàn TNCS Hồ Chí Minh dưới sự lãnh đạo của Đảng ủy, hoạt động trực thuộc Đoàn các Cơ quan và DN tỉnh Sóc Trăng; có 216 đoàn viên, sinh hoạt trong14 Chi đoàn.

                                              

Hội Cựu chiến binh có 37 hội viên, hoạt động trực thuộc Hội Cựu chiến binh thành phố Sóc Trăng. Trong những năm qua các đoàn thể luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao

                          

Đời sống người lao động được đảm bảo, đặc biệt với mô hình Làng Điện lực Sóc Trăng đã giải quyết ổn định nơi ăn chốn ở cho hơn 133 hộ gia đình CB.CNV.

                       

Từ mô hình “Làng Điện lực”, Công đoàn còn phối hợp mua đất xây Thôn Điện lực ở các Điện lực trong tỉnh. Đến nay, có 07 Điện lực mua được đất để xây Thôn Điện lực.

                                       

Lãnh đạo Công ty cũng đã thuê tư vấn thiết kế, quy hoạch xây dựng phát triển hình thành Thôn Điện lực ở Điện lực Cù Lao Dung, Kế Sách và đang xúc tiến việc lập Thôn ở Điện lực Thạnh Trị vào năm 2020.

                                           

Chăm lo đời sống CB.CNV để mọi người an tâm công tác, từ đó tạo động lực thúc đẩy nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.

III.Sáng kiến, cải tiến kỹ thuật:

Trong những năm qua, đơn vị đã có 20 sáng kiến cải tiến kỹ thuật, gồm18 sáng kiến cấp Tổng công ty Điện lực miền Nam, 1 Sáng kiến cấp Tỉnh Sóc Trăng và 1 sáng kiến cấp Bộ Công Thương.

Nổi bật là sáng kiến “Sử dụng potelet composite cho các nhánh rẽ vào nhà khách hàng” đã giảm bớt chi phí đầu tư (potelet composite có giá thấp hơn potelet sắt), đảm bảo tính mỹ quan. Tiết kiệm chí phí thi công lắp đặt, bảo trì cho toàn dự án khoảng 2,8 tỷ đồng/năm. Đề tài này đã được áp dụng trong ngành Điện đối với Dự án cấp điện cho đồng bào dân tộc Khmer” tỉnh Sóc Trăng, Trà Vinh, Bạc Liêu... được Tổng công ty Điện lực miền Nam công nhận Quyết định số: 588/QĐ-EVNSPC ngày 14/3/2014.

-Sáng kiến “Tiết kiệm điện trong nuôi tôm”, sử dụng gối đỡ con lăn để đỡ trục quay của dàn quạt oxy để làm giảm ma sát khi quay góp phần tiết kiệm điện tiêu thụ của động cơ và tăng thời gian sử dụng trục quay. Giúp người sử dụng giảm được 15,2% lượng điện năng so với mô hình truyền thống. Đồng thời cải tiến dàn quạt cho động cơ cùng phương với trục dàn quạt (lắp đặt trục quay của dàn quạt oxy cùng phương với trục quay của động cơ kết hợp sử dụng gối đỡ con lăn). Giúp người sử dụng giảm được 38,72% lượng điện năng so với mô hình truyền thống, tương ứng số tiền tiết kiệm gần 2,5 tỷ đồng/năm.

                                              

                           (Được Bộ Công Thương công nhận quyết định số 2479/QĐ-BCT ngày 12/7/2018). Đạt giải nhất sáng kiến vì cộng đồng.

IV.Tham gia các hoạt động an sinh xã hội

100% CB.CNV đóng góp ủng hộ các loại quỹ xã hội, từ thiện với số tiền bình quân hàng năm hơn 1,5 tỷ đồng, gồm có: Ủng hộ huyện nghèo theo Nghị quyết 30a/CP của Chính phủ, Quỹ “Vì người nghèo”, Quỹ “Đền ơn đáp nghĩa”, hỗ trợ đồng bào bị thiên tai, dịch bệnh; xây dựng nhà tình nghĩa, nhà tình thương; Phụng dưỡng Mẹ Việt Nam Anh hùng; tặng quà trẻ em nghèo nhân dịp khai giảng năm học mới, Tết Trung thu, vui xuân đón tết.

                                           

Tổng công ty tài trợ trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng 60 căn nhà tình nghĩa, tình thương với tổng số tiền 3 tỷ đồng.

Đạt được những thành tựu nêu trên là nhờ có sự quan tâm chỉ đạo của Tổng công ty Điện lực miền Nam, Tập đoàn Điện lực Việt Nam, Tỉnh ủy, HĐND, UBND Tỉnh; cùng sự hỗ trợ của các ban, ngành và nhân dân trong tỉnh. Bên cạnh đó là sự lãnh đạo của Ban Giám đốc Công ty Điện lực Sóc Trăng và sự cống hiến sức lực, trí tuệ của các cán bộ lão thành; tinh thần nỗ lực, phấn đấu của cán bộ, công nhân viên Công ty Điện lực Sóc Trăng.

 

V.Thành tích đạt được cao nhất

Công ty Điện lực Sóc Trăng vinh dự được tặng thưởng các danh hiệu cao quý:

-Huân chương Độc lập hạng Ba;

-Huân chương Lao động hạng Nhất, hạng Nhì, hạng Ba;

-Huân chương Chiến công hạng Ba;

-4 bằng khen của Thủ tướng Chính phủ 

-Nhiều cá nhân, tập thể được ngành Điện, địa phương và Trung ương khen thưởng danh hiệu thi đua cao quý.

Thành tích đạt được cao nhất của Công ty Điện lực Sóc Trăng trong những năm qua là đơn vị đã từng bước nâng cao uy tín ngành Điện tại địa phương, được đa số khách hàng đã thay đổi cách nhìn nhận khi nói đến phong cách phục vụ của CBCNV.

***

Năm 2020 thực hiện Chủ đề của Tập đoàn là Tập trung hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ kế hoạch 2016-2020, đơn vị đang triển khai thực hiện các công trình Xây dựng đường dây 110kV Trần Đề - trạm 220kV Sóc Trăng 2 (34 km đường dây, 2 mạch dây dẫn tiết diện 2AC-240); Xây dựng TBA 110kV Khu công nghiệp An Nghiệp (0,1 km đường dây, công suất của trạm 2x40MVA) giai đoạn đầu lắp 1x40MVA; TBA 110kV Kế Sách và đường dây đấu nối (18,14 km đường dây; công suất của trạm 2x40MVA), giai đoạn đầu lắp 1x40MVA.

45 năm qua (1975-2020) xây dựng và phát triển là khoảng thời gian CB.CNV PCST vượt qua rất nhiều khó khăn thách thức, nhưng với lòng nhiệt huyết và truyền thống đoàn kết cùng tiến bộ đã tạo thành sức mạnh đưa đơn vị hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ được giao, đặc biệt là công tác phát triển điện:

CHƯƠNG IV

MỤC TIÊU NHIỆM VỤ KẾ HOẠCH 5 NĂM (2021-2025)

Dư báo giai đoạn 2021-2025:

Khả năng cung cấp điện giai đoạn 2021-2025 dự báo gặp nhiều khó khăn do thiếu nguồn; Lưới điện 110kV và lưới điện 22kV về cơ bản đủ đáp ứng cung cấp điện cho giai đoạn tuy nhiên vẫn chưa đảm bảo được tiêu chí lưới điện N-1 khi chuyển tải phục vụ công tác.

Mục tiêu tổng quát của Công ty Điện lực Sóc Trăng:

1. Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, tăng năng suất lao động, giảm chi phí.

2. Duy trì tài chính lành mạnh, minh bạch và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.

3. Nâng cao chất lượng kinh doanh - dịch vụ khách hàng: Hoàn thành các chỉ tiêu kinh doanh bán điện và nâng cao chất lượng dịch vụ khách hàng; chủ động tham gia thị trường bán buôn và thị trường bán lẻ điện cạnh tranh.

4. Nâng cao hiệu quả quản lý kỹ thuật - vận hành: Vận hành hệ thống điện an toàn, ổn định tin cậy; từng bước hoàn thiện lưới điện thông minh, có tỷ lệ tự động hóa cao.

5. Tăng cường công tác quản trị, hoàn thiện bộ máy tổ chức: Củng cố và nâng cao năng lực quản trị doanh nghiệp; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; Thực hiện tái cấu trúc theo đề án được Tập đoàn, Tổng công ty phê duyệt.

6. Đẩy mạnh ứng dụng CNTT: Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ mới, CNTT trong đầu tư, quản lý vận hành hệ thống điện, kinh doanh - dịch vụ khách hàng và trong công tác quản lý, điều hành.

7. Nâng cao hiệu quả đầu tư - xây dựng: Đầu tư xây dựng hiệu quả, đồng bộ, đáp ứng yêu cầu phụ tải; tận dụng hiệu quả mọi nguồn vốn trong công tác đầu tư xây dựng.

Mục tiêu nhiệm vụ đầu tư xây dựng:

- Đảm bảo cung cấp điện đầy đủ, kịp thời, an toàn, ổn định, chất lượng theo nhu cầu phát triển phụ tải nhằm đáp ứng sự phát triển kinh tế- xã hội của Tỉnh; Giảm tổn thất điện năng, củng cố lưới điện, đáp ứng điều kiện hệ số mang tải của các máy biến áp 110kV trong khoảng từ 55-75%;

- Tiến tới mỗi Huyện/Thị xã có ít nhất 1 trạm 110kV, khai thác tải kịp thời đồng bộ với việc đóng điện các TBA 110kV trên địa bàn; Nối lưới giữa các lộ ra TBA 110kV để giảm tải cho các phát tuyến đường dây hiện hữu hiện đang vận hành đầy tải nhằm tăng cường khả năng cấp điện, cũng như việc vận hành khai thác hiệu quả tải các MBA 110kV và hoàn thiện lưới điện theo tiêu chí N-1, từng bước hiện đại hóa lưới điện.

- Xây dựng và cải tạo phát triển lưới điện nông thôn vùng sâu, vùng xa và các đồng bào dân tộc; tiếp tục đầu tư đảm bảo cấp điện cho: Các trạm bơm, tưới tiêu chống úng, chống hạn; Cấp điện theo tiêu chí số 4 nông thôn mới; Cấp điện phục vụ nuôi tôm công nghiệp và trồng thanh long; Cấp điện cho vùng lõm chưa có điện, …

- Tiếp tục thực hiện các công trình giải phóng năng lượng tái tạo còn lại theo Quy hoạch được duyệt;

- Đầu tư hệ thống công nghệ thông tin, cơ sở vật chất, trang bị, phương tiện, góp phần nâng cao năng suất lao động.

SƠ ĐỒ TỔ CHỨC

CÔNG TY ĐIỆN LỰC SÓC TRĂNG